Niệm Phật nhất định Vãng Sanh Cực Lạc: Những chứng cứ đanh thép!!!
Pháp Giới 3 tháng trước

Niệm Phật nhất định Vãng Sanh Cực Lạc: Những chứng cứ đanh thép!!!

Niệm Phật là pháp tu dễ bậc nhất để ra khỏi sanh tử luân hồi và niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc. Tại sao thế? Bởi đó mới là Đại Bi Tâm của đức Phật A Di Đà: Ngài có bản nguyện tiếp dẫn chúng sanh 10 phương về Cực Lạc một cách bình đẳng, không phân biệt thiện ác, trí ngu. Ngài không yêu cầu bạn phải niệm đến nhất tâm, không yêu cầu bạn phải đắc Tam Muội, không yêu cầu bạn phải tụng thêm bao nhiêu bộ kinh, không yêu cầu bạn phải tu thêm các trợ hạnh…Ngài chỉ yêu cầu một điều đơn giản: “Niệm danh hiêu của ta”!

Nếu bạn niệm Phật mà còn nghi ngờ: “Không biết mình có chắc được vãng sanh Cực lạc hay không?” Nghĩa là tâm bạn đang còn đầy bám chấp và chưa thực sự tin sâu pháp niệm Phật! Nếu bạn đang bị bám chấp như thế thì bài viết này là dành cho bạn vậy. Bài viết này sẽ giúp bạn phá hết sạch mọi chấp trước về niệm Phật; khiến niệm Phật trở thành niềm vui rất lạ lùng, mặc những thuận nghịch của cõi đời ngũ trược. Bởi bạn sẽ chắc chắn một điều vô cùng quan trọng: “Mình niệm Phật là nhất định vãng sanh Cực Lạc!” 

  • Thế nào là Tự lực và Tha Lực niệm Phật.
  • Kinh niệm Phật Ba La Mật.
  • Cách niệm Phật tại nhà.
  • Trùng tang có thật không.
  • Học Phật pháp bắt đầu từ đâu.
  • Cách tụng kinh cho người mới mất.
  • Bản nguyện niệm Phật – Trọng yếu đường tu thời mạt pháp.
Niệm Phật nhất định Vãng Sanh Cực Lạc: Những chứng cứ đanh thép!!!
Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: Những chứng cứ đanh thép!!!

1. Đức Phật A-di-đà hóa làm thân cá, độ ngư dân niệm Phật.

Về hướng Tây Nam xa thẳm của nước Chấp Sư Tử có một hòn đảo. Trên đảo ấy, có hơn năm trăm nhà, dân chúng chuyên nghề bắt cá để sinh sống và chẳng biết gì về Phật pháp.

Một ngày nọ, có vài ngàn con cá khá lớn bơi đến xung quanh đảo, giống cá này đều biết nói tiếng người, xưng to: Nam mô A-di-đà Phật. Người trên đảo không rõ do nguyên cớ gì, nên cứ gọi là cá A-di-đà Phật. Có một ngư dân đến gần bờ biển nhại liên tiếp Nam mô A-di-đà Phật theo tiếng của cá, cá tiến vào gần bờ, bơi quanh quẩn không chịu đi. Người này liền bắt cá đem về nấu ăn thì thấy thịt rất ngon.

Việc này lan truyền khắp đảo, nên dân trên đảo, ai muốn ăn cá ấy liền đến bờ biển niệm Phật dụ cá đến gần để bắt. Có điều kỳ lạ, ai niệm Phật nhiều mới bắt cá để nấu ăn, thì mùi vị cá tuyệt ngon; trái lại, ai niệm Phật ít thì mùi vị cá rất dở, vừa cay vừa đắng. Do vậy, những người tham đắm vị ngon của cá, lại càng siêng năng niệm Phật nhiều hơn.

Một thời gian sau, người ăn cá đầu tiên già chết. Sau đó ba tháng, người này cưỡi mây tím bay về đảo ấy, phóng chiếu hào quang quy tụ dân chúng và bảo rằng:

*

“Tôi là người ăn cá đầu tiên và niệm Phật cũng nhiều nhất, sau khi lâm chung, tôi đã được sanh về thế giới Cực lạc. Các con cá lớn hồi ấy chính là do đức Phật A-di-đà hóa hiện. Đức Phật ấy thương xót chúng ta ngu muội, nên hóa làm thân cá để hướng dẫn chúng ta tu pháp Niệm Phật. Nếu quý vị không tin, hãy trở về xem xương cá đã ăn đều là hoa sen cả.”

Mọi người nghe vậy, vui vẻ trở về đến chỗ vất bỏ xương cá, thì đều thấy đã biến thành hoa sen. Họ rất cảm động, phát khởi thiện tâm nguyện bỏ Nghiệp sát sanh và chuyên tâm niệm Phật. Sau đó, mọi người trên đảo đều được vãng sanh về Tịnh Độ, đảo này trở thành hoang vắng không người trong một thời gian dài lâu. Một vị đại A-la-hán nước Chấp Sư Tử, Tôn giả Sư Tử Hiền, dùng thần thông bay đến đảo ấy, khi trở về thuật lại sự kiện này, nên truyền thuyết ấy mới được lưu truyền cho đến bây giờ. (Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục)

Lời bàn:

Không biết tâm tin tưởng là gì,

Không biết tâm phát nguyện là gì,

Chỉ đam mê mùi vị thịt cá,

Nhưng thường xưng niệm danh hiệu Phật.

Vì nhờ xưng niệm danh hiệu ấy,

Hết thảy đều vãng sanh Cực lạc,

Đây là do năng lực công đức,

Của Bổn nguyện Phật A-di-đà.

Đức Phật A-di-đà nguyện rằng,

Ai xưng niệm danh hiệu của Tôi,

Nếu không được vãng sanh Cực lạc,

Tôi chẳng giữ ngôi Chánh giác.

Hiện nay đức Phật A-di-đà,

Đã thành Phật tại thế giới ấy,

Nên chúng sanh nào chuyên niệm Phật,

Nhất định vãng sanh về Cực lạc.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 2. Chim Nhồng niệm Phật, mỏ phát Hoa sen.

Vào triều đại nhà Tống, khoảng niên hiệu Nguyên Hữu (1086-1093), có một người ở quận Trường Sa nuôi một chim nhồng, thường gọi là chim Bát Kha. Ngẫu nhiên, chim nghe một vị Sư niệm A-di-đà Phật, nó liền bắt chước niệm theo, từ đó suốt ngày chim thường xuyên niệm Phật không dừng. Qua sự kiện này, gia đình nuôi chim trở nên thân thiện với nhà Sư. Sau đó một thời gian khá lâu, chim già chết, mỏ chim xuất hiện một đóa sen. Nhà Sư mua quan tài liệm và chôn như một con người. Sư làm bài tụng rằng:

Có một chim linh tên Bát Kha,

Học Sư niệm Phật A-di-đà,

Chết chôn, trên mộ hoa sen nở,

Chúng ta là người há không tu!

Thêm nữa, sư Quán ở chùa Chánh Đẳng trên chóp núi Thiên Thai, có nuôi một chim nhồng, nó thường niệm A-di-đà Phật theo chúng Tăng. Vào một ngày kia, đột nhiên chim chết trong lồng, ở mỏ xuất hiện một đóa sen hồng, nhà chùa đem chôn cất nó. Luật sư Đại Trí làm bài kệ khen chim rằng:

Chim chết, lồng không việc bình thường,

Lạ thay xuất hiện đóa sen hồng!

(Phật Tổ Thống Ký, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục)

Lời bàn:

Đức Di-đà nguyện rằng,

Chúng sanh trong mười phương,

Xưng danh hiệu của Tôi,

Nhất định sanh nước Tôi.

Được gọi là chúng sanh,

Trên kể từ Trời, Người,

Dưới đến loài Địa ngục,

Ngạ quỷ và Súc sanh.

Qua đây để nhận xét,

Chim nhồng- Bát Kha kia,

Nhất định sanh Cực lạc,

Chứng ngộ đại Niết-bàn.

Là người mà chẳng biết,

Biết rồi lại không niệm,

Tệ hèn hơn Súc sanh,

Thật đáng tiếc lắm thay!

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 3. Bà Lão niệm Phật, hiện điềm lành kỳ lạ.

Vào triều đại nhà Nguyên, đến năm Canh Dần (1330), ở Triết Tây xảy ra nhiều năm đói khổ, nhất là trong thành Hàng Châu, người chết đói đầy đường. Chính quyền Hàng Châu nhờ dân chúng khiêng những xác chết ấy ném xuống hố lớn sau núi, gần tháp Lục Hòa.

Có một xác bà lão nằm trong đống tử thi ấy, trải qua nhiều tuần mà không thối rửa. Nhiều người thấy vậy lấy làm ngạc nhiên, cho là điều kỳ dị, liền tìm trong túi áo của bà, thì bắt gặp trong ấy có ba bức công cứ ghi kết quả niệm Phật A-di-đà. Ông huyện Hàng Châu nghe biết điều này, liền mua quan tài tẩm liệm bà, sau đó đem thiêu. Khi đang thiêu, trong đám khói lửa xuất hiện hình Phật và Bồ-tát, phóng chiếu hào quang rực rỡ cả vùng. Qua hiện tượng này, rất nhiều người phát tâm niệm Phật. (Sơn Am Tạp Lục –Tịnh Độ Thánh Hiền Lục) 

Lời bàn:

Bà già siêng niệm Phật,

Mọi nghĩa lý Phật giáo,

Chẳng hiểu một điều gì,

Chỉ nghĩ Phật, niệm Phật.

Sau khi mạng kết thúc,

Hiện điềm lành kỳ lạ,

Xác định đã vãng sanh,

Không có gì nghi ngờ.

Tăng – Ni khi đang sống,

Chưa viên mãn Trí tuệ,

Sau khi Tăng – Ni chết,

Làm sao chứng đạo quả!

Tự lực khó giải thoát,

Niệm Phật dễ vãng sanh,

Người tu chớ tự phụ,

Sai lầm đường tìm đạo.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 4. Bà Thôi làm Kệ, lưỡi như Hoa sen.

Vào triều đại nhà Tống, ở huyện Đông Bình có bà Lương Thị Thôi, người Chuy Châu, làm vú nuôi nghĩa tử Tuyên nguyên Minh. Suốt đời bà ăn chay, về kiến thức thì không hiểu biết gì cả, nên chẳng bao giờ tranh cải hơn thua với bạn bè quen biết. Chủ mẫu là Triều phu nhân thường tu học pháp Thiền, bà Thôi ngày ngày hầu bên cạnh, nhưng chỉ tha thiết niệm danh hiệu Phật A-di-đà liên tục không gián đoạn. Bà niệm Phật không dùng chuỗi hạt, nên chẳng rõ niệm được mấy ngàn, vạn câu.

Vào năm Thiệu Hưng thứ 18 (1148 TL), bà Thôi đã 72 tuổi và bị đau khá nặng, nhưng giấu kín không cho ai biết, vẫn làm việc như bình thường chẳng hề nằm nghỉ, vẫn niệm Phật chuyên cần cầu mau lành bệnh. Sau đó ít lâu, bỗng nhiên bệnh lành, bà buột miệng đọc bài kệ :

Thích tu về cõi phương Tây,

Đã không gò núi, chẳng đầy hố hang,

Khi đi giày dép chẳng mang,

Bước chân sen đỡ dẫn đàng về Tây”.

Bà đọc nhiều lần như thế, có người hỏi: Bài kệ ấy của ai vậy?

Bà đáp: Tôi làm đấy!

Hỏi: Khi nào bà vãng sanh?

Đáp: Giờ Thân tôi sẽ đi.

Quả thật như thế, bà vãng sanh vào giờ Thân ngày mồng 5 tháng 10. Những thân nhân đến tẩm liệm bà và đem thiêu theo cách thức của một vị Tăng. Khi thiêu xong, độc nhất cái lưỡi của bà không bị cháy, mà rực đỏ như một đóa sen. (Di Kiên Chí Ất quyển 9, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục)

Lời bàn:

Kinh Đại Tập dạy:

Nếu ai chỉ niệm Di-đà,

Là Thiền vô thượng sâu xa nhiệm mầu.

Cổ Đức bảo:

Một câu Di-đà, không niệm khác,

Gảy tay, chẳng nhọc đến phương Tây.

Lại bảo:

Tùy duyên mở khai diệu pháp,

Hóa độ chúng sanh chứng đạt chân thường,

Tu Thánh Đạo nhiều đắng cay,

Đường về Cực lạc an bình thảnh thơi.”

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 5. Ngu si vô trí, đứng chấp tay vãng sanh.

Vào triều đại nhà Thanh, ở huyện Trực Lệ có Đạo sĩ họ Vương, vốn là người vô cùng ngu dốt, lại rơi vào hoàn cảnh nghèo hèn đói khát, lưu trú trong ngôi nhà hư hoại dột nát, không có phương cách gì thoát khỏi, chỉ mong chờ kẻ hảo tâm gọi giúp việc, không câu nệ tiền nhiều hay ít.

Duyên lành đã đến, Đạo sĩ họ Vương được Đạo sĩ họ Trần nhận làm đồ đệ, và hằng ngày phụ giúp việc quét dọn, kiếm củi. Vào mỗi chiều, Đạo sĩ họ Vương lại có thời khóa dâng hương, lạy Phật và niệm danh hiệu Phật vài ba trăm câu làm công phu cho mình. Còn việc tụng Kinh, thì Đạo sĩ chẳng có một chút khả năng nào, vừa sai âm điệu vừa sai câu văn, lại còn ngủ gà ngủ gật.

Đạo sĩ họ Trần lấy roi đánh và bảo: Sao con ngu muội như thế, lại chẳng còn biết tinh tấn là gì!

*

Tình trạng như thế kéo dài trọn ba năm, vào một buổi chiều, bỗng nhiên Đạo sĩ Vương cười ha hả thật to. Đạo sĩ Trần lại lấy roi đánh, Đạo sĩ Vương thưa: Hôm nay Thầy đánh con không được đâu.

Hỏi: Tại sao vậy?

– Đáp: Thầy khổ nhọc tọa Thiền 18 năm mà vẫn chưa ngộ đạo, không bằng con chỉ thiết tha lạy Phật, niệm Phật mà sớm được vãng sanh Cực lạc, thấy Phật.

Đạo sĩ Trần rất ngạc nhiên trước thái độ của người học trò và không hiểu chân lý của sự kiện ấy là thế nào. Đến ngày hôm sau, Đạo sĩ Vương leo lên chóp núi, đứng hướng mặt về phía Tây chắp tay mà vãng sanh. Sau khi hỏa thiêu có hai viên xá lợi khá lớn. (Nhiễm Hương Tập, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục) 

Lời bàn:

– Tu theo Thánh Đạo môn: Phải thành tựu Trí tuệ cứu cánh, mới chứng đại Niết bàn; Tu theo Tịnh Độ môn: Cần trở thành người đại ngu si, để vãng sanh Cực lạc.

– Tu theo Thánh Đạo môn: Nương tựa vào Tự lực, thật rất khó tu hành, vạn người không một ai chứng; Tu theo Tịnh Độ môn: Nương tựa vào Tha lực, thật rất dễ tu hành, trăm người vãng sanh cả trăm.

– Tu theo Thánh Đạo môn: Dù căn tánh bậc Thánh nhân, cũng trải qua Ba A-tăng-kỳ kiếp, mới chứng quả cứu cánh; Tu theo Tịnh Độ môn: Hạng ngu si như bà Thôi, chỉ nương vào Sáu chữ danh hiệu Phật, mà vãng sanh thành Phật.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 6. Mỗi búa đập sắt, mỗi câu niệm Phật, lưu Kệ đứng mà vãng sanh.

Vào triều đại nhà Tống, có người thợ rèn họ Hoàng quê ở Đàm Châu. Ông làm nghề rèn để sinh sống, khi rèn, cứ mỗi búa đập sắt là niệm một câu Nam mô A-di-đà Phật không dừng nghỉ.

Vợ ông bảo: Đập sắt vốn đã khổ nhọc, lại còn niệm Phật, há không sợ khổ nhọc thêm sao?

Ông Hoàng đáp: Đây là phương pháp rất tốt, trong những năm qua luôn ở cạnh lò lửa rất nóng nực, nhờ niệm Phật mà không thấy nóng; đập sắt ê ẩm cả cánh tay, nhờ niệm Phật mà chẳng thấy ê ẩm.

Vào một ngày kia, ông Hoàng vẫn khỏe mạnh, viết một bài tụng gửi người bạn láng giềng rằng:

Đinh đinh, đang đang,

Luyện lâu thành thép,

An lạc trước mắt,

Tôi về phương Tây ”.

Và ông đang cầm chiếc búa đứng mà vãng sanh, sắc diện vẫn như thường, hương thơm lan tỏa khắp cả nhà, nhạc trời hòa tấu khắp không trung, rất nhiều người được chứng kiến điềm lành này. Sau đó, bài kệ ấy được lan truyền khắp cả Hồ Nam, khích lệ nhiều người niệm Phật. (Phật Tổ Thống Ký – Tịnh Độ Thánh Hiền Lục)

Lời bàn:

Không biết gì đạo, chỉ thích niệm Phật,

Một búa một câu, niệm niệm không dừng.

Lưu kệ đứng chết, mặt không đổi sắc,

Hương thơm khắp nhà, nhạc trời hòa tấu.

Niệm Phật-làm việc, chẳng trở ngại nhau,

Sĩ-Nông-Công-Thương, đều thực hiện được.

Chỉ nguyện như thế, nương đấy tu trì,

Thích pháp cao sâu, sẽ thành trống rỗng.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 7. Niệm Phật chẳng dừng, trên hòm nở Hoa sen.

Vào triều đại nhà Minh, ở đất Việt có ông Thái Liên Hoa, là người chất phát hồn hậu suốt đời, chẳng có tài năng gì, nhưng ngày đêm lại chuyên cần niệm Phật, không biết mỏi mệt, chẳng hề dừng nghỉ. Sau khi ông mất, trên quan tài bỗng xuất hiện một đóa hoa sen.

Mọi người quen biết xung quanh thấy thế vừa kinh ngạc vừa tán thán, do sự kiện này mới gọi ông là Thái Liên Hoa vậy. (Liên Trì Đại Sư -“Vãng Sanh Tập”)

Lời bàn:

Ngu muội chẳng biết gì, thật thà không gian trá,

Tâm nhớ miệng niệm Phật, hẳn nhiên sanh cõi Phật.

Ngày đêm dù chỗ nào, niệm niệm không gián đoạn,

Trọn ngày ở Ta-bà, trọn ngày ở Cực lạc.

Dù đang ở Sáu đường, đã ra khỏi Ba cõi,

Suốt đời tại Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát Luân hồi.

Một pháp môn Niệm Phật, đơn giản và mau chóng,

Người hiền-ngu, thiện-ác, không tơ tóc phân biệt.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 8. Tin Phật niệm Phật, thao thao bất tuyệt.

Vào triều đại nhà Thanh, ở Gia Hưng có Cư sĩ Thẩm Đình Du, vốn là người cẩn thận nghiêm túc, làm việc gì cũng tận tâm tận lực. Cư sĩ tin pháp Niệm Phật, và niệm danh hiệu Phật thao thao bất tuyệt, mọi người thấy thế đều cười nhạo, song Cư sĩ chẳng hề lưu tâm.

Cư sĩ niệm Phật tinh tấn như thế trải qua độ vài ba chục năm, một hôm tự nghĩ: Niệm Phật càng thành thục, xử sự càng minh bạch. Vào năm 73 tuổi, Cư sĩ biểu hiện bệnh nhẹ và đột nhiên bảo với người thân rằng: Đức Phật đến rồi, phóng hào quang đón tiếp tôi, rồi tự đốt hương mà vãng sanh. Bấy giờ là ngày 19 tháng 3 niên hiệu Gia Khánh thứ 19 (1814 TL). (Nhiễm Hương Tập – Tịnh Độ Thánh Hiền Lục) 

Lời bàn:

– Tu pháp môn Niệm Phật, dù đi đứng nằm ngồi, giờ chốn hay mọi việc, hết thảy không trở ngại.

– Tin tưởng chuyên niệm Phật, chính thân là đạo tràng, tùy âm thanh xưng niệm, cùng hiện hữu với Phật.

– Dù rảnh hay bận rộn, vẫn không quên niệm Phật, niệm niệm luôn thường tại, động-tịnh vẫn nhất như.

– Niệm Phật càng thành thục, xử sự càng minh bạch, niệm Phật làm tâm tịnh, tâm tịnh Trí huệ sanh.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 9. Nhà Rắn niệm Phật, đều thoát kiếp Rắn.

Vào triều đại nhà Minh, có ông Chu Doãn Tổ người Giang Tây, được cử làm Giám đốc hiến binh ở Quảng Đông. Tại đây, có vị tướng quân biết rõ nhân quả ba đời của mình: Đời thứ nhất là thân rắn, đời thứ hai là thư sinh, đời thứ ba tức đời hiện tại, là quan chức.

Nhân được lệnh dẫn quân đi chinh phạt người Man trong núi sâu, khi đi qua một ngọn núi, vị tướng quân bảo với quân sĩ rằng: Đời trước, ta đã từng làm rắn ở núi này, bây giờ ta muốn vào sau núi để thăm bà con thân thuộc ngày xưa, các ngươi chớ có ngạc nhiên kinh sợ. Sau đó, đoàn quân đi ra sau núi, tiến vào trong động thì thấy vô số rắn lớn, rắn nhỏ. Vị tướng quân dùng ngôn ngữ rắn, bảo chúng rằng:

“Ta xưa kia cũng là rắn như các vị và cũng sinh sống tại đây, lý do là ta đã niệm được một câu danh hiệu Phật mà được sanh lên làm kiếp người, nay lại làm vị đại tướng. Các vị sao không chịu phát tâm niệm Phật, cầu thoát khỏi cái khổ của kiếp làm rắn! “

Bầy rắn gật đầu cảm ơn và hứa thực hiện. Sau khi thắng giặc trở về, tướng quân lại dẫn đoàn quân vào động rắn xem thế nào, thì thấy tất cả rắn đều chết hết, thật đúng là do niệm Phật mà thoát kiếp làm rắn. Ông Chu Doãn Tổ nghe được điều này cho là việc hy hữu, nên thuật lại để lưu truyền. (Tịnh Độ Thần Chung, quyển 10)

Lời bàn:

– Dòng họ của nhà rắn, hiểu biết chẳng ra gì, cũng có thể niệm Phật, thoát khỏi Ba đường ác.

– Nên biết pháp Niệm Phật, giản dị lại thù thắng, nếu không tu niệm Phật, khi nào mới giải thoát.

– Chỉ niệm Phật một câu, được sanh làm thân người, nếu cầu về Tịnh Độ, cũng ắt được vãng sanh.

– Đức Di-đà nguyện rằng, chúng sanh trong đường ác, đều sanh về nước Tôi, giúp họ chóng thành Phật.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 10. Khảo nghiệm Pháp niệm Phật, tượng Phật phóng quang.

Vào triều đại nhà Đường, Đại sư Thiện Đạo (613- 681TL) đang lưu trú tại chùa Tây Kinh ở Trường An, đã cùng Pháp sư Kim Cang khảo nghiệm pháp tu Niệm Phật là thù thắng hay yếu kém. Đại sư lên ngồi trên tòa cao và phát nguyện: Căn cứ vào các Kinh mà đức Thế Tôn đã dạy:

“Tu một pháp Niệm Phật sẽ được vãng sanh Tịnh Độ, hoặc niệm danh hiệu Phật A-di-đà từ một ngày hay bảy ngày, thậm chí mười niệm cho đến một niệm, thì nhất định sanh về Tịnh Độ”.

Nếu điều ấy là chân thật, không phải lừa dối chúng sanh, thì khiến tất cả tượng Phật trong chánh điện này đều phóng chiếu hào quang. Trái lại, nếu pháp Niệm Phật này là hư dối, không thể vãng sanh Tịnh Độ, mà chỉ mê hoặc lừa dối chúng sanh, thì khiến Thiện Đạo đang ngồi trên tòa cao này, lập tức đọa vào đại Địa ngục, chịu khổ vĩnh viễn, không bao giờ ra khỏi. Đáp ứng lời thệ nguyện của Đại sư Thiện Đạo, hết thảy tượng Phật ở chánh điện đều chiếu hào quang rực rỡ. (Đường Triều, Đạo Kính, Thiện Đạo – Niệm Phật Kính)

Lời bàn:

– Nếu ai có hỏi rằng: Với loại chúng sanh nào, có thể được thành Phật?

– Lập tức trả lời ngay: Những chúng sanh niệm Phật, có thể được thành Phật.

– Niệm Phật được thành Phật, là Bổn nguyện Di-đà, do Thích Tôn hoằng dương, được chư Phật tán thán.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 11. Mọi người thấy hóa thân Phật, dẫn Đồng Tử Trời.

Vào triều đại nhà Đường, có ông họ Kinh ở Trường An, vốn làm nghề giết súc vật để sinh sống. Nhân duyên, do Đại sư Thiện Đạo giáo hóa dân chúng Trường An tu tập pháp môn Niệm Phật, nên họ quyết tâm không ăn thịt nữa. Điều này làm ông Kinh rất tức giận, liền cầm dao vào chùa định giết Đại sư.

Khi ấy. Đại sư chỉ tay về hướng Tây, thì cõi Tịnh Độ hiện ra. Ông Kinh thấy vậy liền hối hận và hồi tâm phát nguyện niệm Phật. Ông leo lên cây cao ngồi niệm Phật, sau đó rớt xuống mà chết. Mọi người thấy đức hóa Phật dẫn đồng tử Trời từ đỉnh đầu ông Kinh đi ra. (Phật Tổ Thống Ký – quyển 28)

Lời bàn:

– Cứu độ của A-di-đà, lúc nào cũng đáp ứng, chỗ nào cũng xuất hiện, hoàn toàn không điều kiện. 

– Bất cứ hạng người nào, đều là người được cứu, bất cứ thời gian nào, đều là giờ được cứu.

– Công đức Phật Di-đà, bố thí cho chúng sanh, làm hết thảy chúng sanh, phước tuệ đều viên mãn.

– Muốn sanh về nước Tôi, cho đến chỉ mười niệm, nếu không được vãng sanh, Tôi không thành Chánh giác.

– Thế nên mọi chúng sanh, bất cứ hạng người nào, nguyện sanh về nước ấy, ắt hẳn được vãng sanh.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 12. Đức Phật đem hoa đến, nghinh đón Đồng tử 12 tuổi.

Vào triều đại nhà Minh, Viên tôn Đạo có người con trai tên là Đăng, vừa 12 tuổi thì bị ung thư lá lách sắp chết. Đăng thưa với thúc phụ Hoàng Đạo rằng: Con sắp chết rồi! Sao thúc phụ không cứu con?

Hoàng Đạo đáp: Con cần niệm Phật để cầu nguyện vãng sanh về nước của Phật, thế giới này tràn đầy Năm thứ ô trược, con không nên lưu luyến làm gì.

Bé Đăng vâng lời, chắp tay niệm Nam mô A-di-đà Phật, thân thuộc xung quanh cũng niệm theo để trợ niệm.

Một lát sau, bé Đăng cười và nói: Thấy một đóa sen nho nhỏ, màu hồng nhạt.

Lát sau lại nói: Đóa hoa sen đang to dần, màu hồng tươi thắm rực rỡ không thể diễn tả.

Lát sau lại nói: Đức Phật đã đến rồi, hào quang tướng hảo chiếu sáng cả nhà.

Sau đó không lâu, hơi thở của bé Đăng sắp cạn kiệt, bố bé Đăng bảo rằng: Con chỉ xưng niệm danh hiệu Phật, chứ đừng nghĩ gì cả. Bé Đăng gắng sức chấp tay niệm danh hiệu Phật và trút hơi thở cuối cùng. (Kha Tuyết Trai Ngoại Tập – Tịnh Độ Thánh Hiền Lục)

Lời bàn:

– Hài nhi khi bú sữa, dù không biết mùi vị, thân vẫn lớn từng ngày.

– Người bệnh dùng thuốc thang, chẳng rõ tính chất thuốc, bệnh bớt theo thời gian.

– Dù biết hay không biết, niệm Phật được vãng sanh, kết quả tương tự vậy.

Niệm Phật nhất định Vãng sanh Cực Lạc: 13. Đồng tử bảy tuổi, theo Phật về Tây.

Vào triều đại nhà Thanh, có đồng tử họ Đinh người ở Thường Thục, hiện lưu trú tại trấn Mai Lý. Năm lên 7 tuổi, bé Đinh thường nghe cha mẹ trì niệm danh hiệu đức Phật, nên mỗi sáng bé cũng niệm Phật. Chẳng bao lâu, bé có chút bệnh nhẹ; do đó sáng ấy vẫn còn nằm, bỗng vùng dậy tự nói: Sáng nay đã quên niệm Phật, mình phạm lỗi nặng rồi!.

Bèn đi rửa tay rửa mặt vào chánh điện lạy Phật, niệm Phật xong, lại ngủ tiếp. Đến chiều, bé thưa với mẹ rằng: Con theo đức Phật về phương Tây, xin mẹ chớ buồn rầu nghi nan.

Sưu Tầm Bởi Tuệ Tâm Admin ( https://kinhnghiemhocphat.com/ )

Xem Thêm:   Ngày Thập Trai là ngày nào

25 lượt xem | 0 Bình luận
Nam Mô A Di Đà Phật - Pháp Giới là trang chia sẻ phật pháp, kinh phật, pháp âm, câu chuyện phật giáo. Mong góp chút sức lực bé nhỏ để giúp các bạn tiếp cận được đại trí thức của đức Phật. Đừng hỏi tôi là ai. Hãy chấp trì danh hiệu Phật, gieo duyên với Phật Pháp để giúp bạn an lạc.
Pháp Âm Thần Chú Tu Học Blog