Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ( Kinh Pháp Hoa) Trọn Bộ Kèm Link PDF
Pháp Giới 4 tuần trước

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ( Kinh Pháp Hoa) Trọn Bộ Kèm Link PDF

 

♦ PHẨM 1: PHẦN TỰA

TÔI NGHE NHƯ VẦY:

Một thuở nọ, Đức Phật cùng với 12.000 vị đại Bhikṣu [bíc su] ở trên núi Thứu Phong gần thành Vương Xá. Tất cả đều là các bậc Ứng Chân với các lậu đã tận và không còn phiền não. Họ được điều lợi ích cho bản thân, dứt trừ mọi sự ràng buộc, và tâm được tự tại.

Tên các ngài là:

– Tôn giả Giải Bổn Tế,
– Tôn giả Đại Ẩm Quang,
– Tôn giả Mộc Qua Lâm Ẩm Quang,
– Tôn giả Tượng Ẩm Quang,
– Tôn giả Hà Ẩm Quang,
– Tôn giả Thu Lộ Tử,
– Tôn giả Đại Thải Thục Thị,
– Tôn giả Đại Tiễn Thế Chủng Nam,
– Tôn giả Vô Diệt,
– Tôn giả Phòng Tú,
– Tôn giả Ngưu Tướng,
– Tôn giả Thất Tú,
– Tôn giả Dư Tập,
– Tôn giả Thiện Dung,
– Tôn giả Đại Tất,
– Tôn giả Hỷ Lạc,
– Tôn giả Diễm Hỷ,
– Tôn giả Mãn Từ Tử,
– Tôn giả Thiện Hiện,
– Tôn giả Khánh Hỷ,
– Tôn giả Phú Chướng,
– và các vị đại Ứng Chân khác như thế mà ai cũng quen biết.

Lại có 2.000 vị Hữu Học cùng bậc Vô Học.

Có Bhikṣuṇī [bíc su ni] Đại Thắng Sanh Chủ và với 6.000 quyến thuộc.

Có mẹ của Tôn giả Phú Chướng là Bhikṣuṇī Trì Xưng và hàng quyến thuộc.

Có 80.000 vị đại Bồ-tát, đều là những vị không thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hết thảy đều đắc tổng trì cùng nhạo thuyết biện tài và có thể chuyển Pháp luân không thoái chuyển. Các ngài đã cúng dường vô lượng trăm ngàn chư Phật và ở nơi của các Đức Phật kia gieo trồng căn lành. Các ngài thường được chư Phật ngợi khen, tu hành với lòng từ bi, khéo vào trí tuệ của Phật, thông đạt đại trí tuệ, và đã qua bờ kia. Danh xưng của họ vang khắp vô lượng thế giới và có thể độ vô số trăm ngàn chúng sanh.

Tên các ngài là:

– Diệu Cát Tường Bồ-tát,
– Quán Thế Âm Bồ-tát,
– Đắc Đại Thế Bồ-tát,
– Thường Tinh Tấn Bồ-tát,
– Bất Hưu Tức Bồ-tát,
– Bảo Chưởng Bồ-tát,
– Dược Vương Bồ-tát,
– Dũng Thí Bồ-tát,
– Bảo Nguyệt Bồ-tát,
– Nguyệt Quang Bồ-tát,
– Mãn Nguyệt Bồ-tát,
– Đại Lực Bồ-tát,
– Vô Lượng Lực Bồ-tát,
– Việt Tam Giới Bồ-tát,
– Hiền Hộ Bồ-tát,
– Từ Thị Bồ-tát,
– Bảo Tích Bồ-tát,
– Đạo Sư Bồ-tát,
– và chư đại Bồ-tát khác như thế; tổng cộng là 80.000 vị.

Lúc bấy giờ còn có Năng Thiên Đế và hàng quyến thuộc; tổng cộng là 20.000 vị thiên tử.

Lại có Nguyệt Thiên Tử, Phổ Hương Thiên Tử, Bảo Quang Thiên Tử, Tứ Đại Thiên Vương, và hàng quyến thuộc; tổng cộng là 10.000 vị thiên tử.

Có Tự Tại Thiên Tử, Đại Tự Tại Thiên Tử, và hàng quyến thuộc; tổng cộng là 30.000 vị thiên tử.

Có vị chủ lãnh của Thế giới Kham Nhẫn là Đại Phạm Thiên Vương, cũng như Trì Kế Đại Phạm, Quang Minh Đại Phạm, và các vị khác như thế, cùng với hàng quyến thuộc; tổng cộng là 12.000 vị thiên tử.

Có tám vị long vương, gồm có: Hỷ Lạc Long Vương, Hiền Hỷ Long Vương, Hải Long Vương, Cửu Đầu Long Vương, Đa Thiệt Long Vương, Vô Nhiệt Não Long Vương, Từ Tâm Long Vương, Thanh Liên Long Vương, và các vị khác như thế; mỗi vị có vài trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị nghi thần vương, gồm có: Pháp Nghi Thần Vương, Diệu Pháp Nghi Thần Vương, Đại Pháp Nghi Thần Vương, và Trì Pháp Nghi Thần Vương; mỗi vị có vài trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị tầm hương thần vương, gồm có: Nhạc Tầm Hương Thần Vương, Nhạc Âm Tầm Hương Thần Vương, Mỹ Tầm Hương Thần Vương, và Mỹ Âm Tầm Hương Thần Vương; mỗi vị có vài trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị phi thiên vương, gồm có: Bị Phược Phi Thiên Vương, Quảng Kiên Bác Phi Thiên Vương, Tịnh Tâm Phi Thiên Vương, và Chấp Nhật Phi Thiên Vương; mỗi vị có vài trăm ngàn quyến thuộc.

Có bốn vị kim sí điểu vương, gồm có: Đại Uy Đức Kim Sí Điểu Vương, Đại Thân Kim Sí Điểu Vương, Đại Mãn Kim Sí Điểu Vương, và Như Ý Kim Sí Điểu Vương; mỗi vị có vài trăm ngàn quyến thuộc.

Có vua Vị Sanh Oán, con của Phu nhân Thắng Diệu Thân, và vài trăm ngàn quyến thuộc.

Mỗi vị đều đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi lui xuống ngồi qua một bên.

Lúc bấy giờ bốn chúng đệ tử vây quanh, cúng dường cung kính và tuyên dương tán thán Thế Tôn. Tiếp đến, Đức Phật thuyết Kinh Đại Thừa tên là Vô Lượng Nghĩa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.

Khi Phật thuyết Kinh đó xong, Ngài ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen và nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ Chánh Định–thân tâm bất động.

Ngay lúc ấy, trời mưa hoa vi diệu âm, hoa vi diệu âm lớn, hoa nhu nhuyễn, và hoa nhu nhuyễn lớn để rải lên Đức Phật cùng các đại chúng. Khi đó, khắp thế giới của chư Phật đều chấn động sáu cách.

Lúc bấy giờ trong Pháp hội có những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân, cùng các tiểu vương và Chuyển Luân Thánh Vương. Khi toàn thể đại chúng thấy được việc chưa từng có, họ vui mừng chắp tay và nhất tâm nhìn chăm chú Đức Phật.

Lúc bấy giờ Đức Phật phóng một luồng ánh sáng từ tướng bạch hào ở giữa đôi chân mày, chiếu soi 18.000 thế giới ở phương đông; không một nơi nào mà chẳng rọi tới, dưới đến tận Địa ngục Vô Gián, trên lên thấu trời Sắc Cứu Cánh. Từ ở thế giới này có thể thấy hết chúng sanh trong sáu đường ở các cõi nước kia.

Lại thấy chư Phật hiện tại ở các quốc độ kia, cùng nghe được Kinh Pháp của chư Phật nơi đó thuyết giảng, và cũng thấy các vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ ở cõi nước kia tu hành đắc Đạo.

Lại thấy chư đại Bồ-tát trong sự tu hành của Đạo Bồ-tát với đủ mọi nhân duyên, muôn thứ tín giải, và vô số tướng mạo.

Lại thấy chư Phật vào Cứu Cánh Tịch Diệt.

Lại thấy sau khi chư Phật vào Cứu Cánh Tịch Diệt, chúng đệ tử lấy xá-lợi của Phật mà xây tháp bảy báu.

Lúc bấy giờ Từ Thị Bồ-tát khởi niệm như vầy:

“Nay Thế Tôn hiện tướng thần thông biến hóa. Vì nhân duyên gì mà có điềm lành đó? Bây giờ Đức Phật Thế Tôn đã nhập chánh định, nhưng lại hiện ra điều hy hữu này, thật là chẳng thể nghĩ bàn. Ta sẽ phải hỏi ai đây? Và ai có thể giải đáp?”

Lại nghĩ như vầy:

“Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử đã từng thân cận và cúng dường vô lượng chư Phật quá khứ. Ngài tất nhiên phải thấy tướng hy hữu đó. Bây giờ ta hãy nên hỏi ngài.”

Khi ấy các vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, cùng chư thiên long quỷ thần thảy đều khởi niệm như vầy:

“Giờ đây mình sẽ hỏi ai về hào quang và tướng thần thông này của Phật?”

Lúc bấy giờ Từ Thị Bồ-tát vì muốn giải đáp điều nghi vấn của mình, lại quán sát bốn chúng đệ tử–Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ–cùng tâm niệm của chư thiên long quỷ thần trong chúng hội, nên hỏi ngài Diệu Cát Tường rằng:

“[Nhân Giả!] Nhân duyên gì mà có tướng lành của thần thông này, phóng đại quang minh chiếu đến 18.000 quốc độ ở phương đông, khiến đều thấy những sự trang nghiêm ở cõi nước của chư Phật kia?”

Tiếp đó Từ Thị Bồ-tát muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên dùng kệ hỏi rằng:

“Nhân giả Diệu Cát Tường
Đạo sư nhân duyên gì?
Bạch hào giữa chân mày
Chiếu khắp đại quang minh

Mưa hoa vi diệu âm
Hoa nhu nhuyễn cõi trời
Làn gió hương đàn thơm
Vui thích lòng đại chúng

Do bởi nhân duyên gì
Đại địa đều nghiêm tịnh
Lại ở thế giới này
Chấn động rung sáu cách

Khi đó hàng bốn chúng
Ai nấy đều hoan hỷ
Thân an lòng vui sướng
Được điều chưa từng có

Ánh sáng giữa chân mày
Chiếu thấu đến phương đông
Mười tám ngàn cõi nước
Đều thành như sắc vàng

Từ dưới ngục Vô Gián
Trên đến Sắc Cứu Cánh
Trong các thế giới kia
Chúng sanh khắp sáu đường

Sanh tử nơi cõi giới
Thiện ác với nghiệp duyên
Thọ báo tốt hay xấu
Thảy đều hiện thấy rõ

Lại thấy chư Như Lai
Đức Thánh Chủ Sư Tử
Diễn nói Kinh Pháp Phật
Vi diệu siêu đệ nhất

Âm thanh Phật thanh tịnh
Vang ra tiếng hòa nhã
Giáo hóa chư Bồ-tát
Nhiều vô số ức vạn

Phạm âm vi diệu sâu
Khiến người hoan hỷ nghe
Ở nơi mỗi thế giới
Thuyết giảng Chánh Pháp mầu

Với đủ mọi nhân duyên
Dùng vô lượng thí dụ
Hiển rõ Phật diệu Pháp
Khai đạo ngộ chúng sanh

Nếu người gặp khổ ách
Nhàm chán già bệnh chết
Chư Phật nói tịch diệt
Tận diệt mọi khổ nạn

Nếu người có phước báo
Bởi từng cúng dường Phật
Chí cầu Pháp tối thắng
Chư Phật nói Duyên Giác

Nếu có Phật tử nào
Tu tập muôn hạnh lành
Chí cầu vô thượng trí
Chư Phật nói tịnh Đạo

Nhân giả Diệu Cát Tường
Tôi ở tại nơi đây
Thấy nghe việc như vậy
Cùng với ngàn ức sự
Rất nhiều việc như thế
Nay tôi sẽ lược nói

Tôi thấy các quốc độ
Hằng sa chư Bồ-tát
Với đủ mọi nhân duyên
Chí cầu Đạo vô thượng

Hoặc có vị bố thí
Vàng bạc với san hô
Trân châu như ý châu
Xa cừ cùng mã não

Kim cang các trân bảo
Nô tỳ với xe cộ
Kiệu báu đồ trang sức
Hoan hỷ bố thí người

Phật Đạo xin hồi hướng
Phật Thừa nguyện sẽ đắc
Đệ nhất trong ba cõi
Chư Phật đều tán dương

Hoặc thấy có Bồ-tát
Bố thí xe quý báu
Lan can mái hiên cửa
Lọng hoa cùng bốn ngựa

Lại thấy có Bồ-tát
Lấy da thịt tay chân
Cùng vợ con bố thí
Chí cầu Đạo vô thượng

Lại thấy có Bồ-tát
Lấy đầu mắt thân thể
Vui vẻ bố thí người
Chí cầu trí của Phật

Nhân giả Diệu Cát Tường
Tôi thấy các quốc vương
Đi đến chỗ của Phật
Hỏi về Đạo vô thượng

Rồi xả bỏ quốc gia
Cung điện cùng thần thiếp
Cạo bỏ cắt râu tóc
Mà khoác lên Pháp y

Hoặc thấy có Bồ-tát
Xuất gia làm Bhikṣu
Một mình nơi yên tĩnh
Vui thích tụng Kinh điển

Lại thấy có Bồ-tát
Luôn dũng mãnh tinh tấn
Lên rừng sâu núi thẳm
Tư duy về Phật Đạo

Lại thấy người ly dục
Luôn ở nơi vắng vẻ
Tu thiền vào sâu định
Chứng đắc năm thần thông

Lại thấy có Bồ-tát
Chắp tay thiền an lạc
Dùng trăm ngàn bài kệ
Tán thán chư Pháp Vương

Lại thấy có Bồ-tát
Trí sâu nguyện kiên cố
Khéo hỏi Phật Như Lai
Nghe xong đều thọ trì

Lại thấy có Phật tử
Đầy đủ giới định tuệ
Dùng vô lượng thí dụ
Vì chúng thuyết giảng Pháp

Lòng vui mừng thuyết Pháp
Giáo hóa chư Bồ-tát
Hàng phục chúng ma binh
Đánh trống Pháp vang rền

Lại thấy có Bồ-tát
Tịch nhiên trong yên tĩnh
Trời rồng vây cung kính
Cảnh vui chẳng lay động

Lại thấy có Bồ-tát
Nơi núi rừng phóng quang
Cứu vớt địa ngục khổ
Khiến họ vào Phật Đạo

Lại thấy có Phật tử
Chưa từng mê ngủ say
Kinh hành trong núi rừng
Tinh cần cầu Phật Đạo

Lại thấy người giữ giới
Uy nghi chẳng khuyết phạm
Thanh tịnh như châu báu
Là vì cầu Phật Đạo

Lại thấy có Phật tử
An trụ sức nhẫn nhục
Dù kẻ tăng thượng mạn
Đánh đập và mắng chửi
Họ đều có thể nhẫn
Là vì cầu Phật Đạo

Lại thấy có Bồ-tát
Lánh xa chuyện phù phiếm
Cùng quyến thuộc ngu si
Chỉ thân cận người trí

Nhất tâm trừ loạn tưởng
Nhiếp niệm trú núi rừng
Muôn ức ngàn vạn năm
Là vì cầu Phật Đạo

Hoặc thấy có Bồ-tát
Lấy thức ăn ngon lạ
Với trăm loại thuốc thang
Cúng dường Phật cùng Tăng

Quần áo xinh đẹp quý
Trị giá cả ngàn vạn
Hoặc lấy vô giá y
Cúng dường Phật cùng Tăng

Ngàn vạn ức muôn loại
Hương đàn với nhà báu
Các giường nệm thượng diệu
Cúng dường Phật cùng Tăng

Các viên lâm thanh tịnh
Trái cây hoa tốt tươi
Suối chảy ao tắm mát
Cúng dường Phật cùng Tăng

Cúng dường vật như thế
Muôn loại vi diệu hảo
Hoan hỷ chẳng mỏi mệt
Chí cầu Đạo vô thượng

Hoặc thấy có Bồ-tát
Thuyết giảng Pháp tịch diệt
Với đủ mọi phương tiện
Dạy vô số chúng sanh

Hoặc thấy có Bồ-tát
Quán sát mọi pháp tánh
Thật chẳng có hai tướng
Tịch diệt như hư không

Hoặc thấy có Phật tử
Tâm chẳng hề chấp trước
Dùng trí tuệ thâm diệu
Chí cầu Đạo vô thượng

Nhân giả Diệu Cát Tường
Lại thấy có Bồ-tát
Sau khi Phật diệt độ
Cúng dường Phật xá-lợi

Lại thấy có Phật tử
Xây tạo các ngôi tháp
Vô số Hằng Hà sa
Trang nghiêm cõi nước đó

Tháp báu vi diệu cao
Năm ngàn yojana [dô cha na]
Chiều dài và chiều rộng
Hai ngàn yojana

Từng mỗi ngôi tháp kia
Có hàng ngàn tràng phan
Với lưới báu bao phủ
Chuông báu hòa nhã vang

Chư thiên long quỷ thần
Hàng người cùng phi nhân
Dùng âm nhạc hoa hương
Thường lấy dâng cúng dường

Nhân giả Diệu Cát Tường
Các Phật tử như thế
Vì cúng dường xá-lợi
Trang nghiêm ngôi tháp kia

Quốc độ kia tự nhiên
Thù đặc đẹp vi diệu
Như thụ vương cõi trời
Lúc đến mùa hoa nở

Phật phóng một hào quang
Tôi với đại chúng đây
Nhìn thấy cõi nước đó
Muôn thứ đẹp thù diệu

Chư Phật sức uy thần
Trí tuệ hy hữu thay
Phóng một tịnh quang minh
Chiếu soi vô lượng quốc

Khi chúng tôi trông thấy
Được sự chưa từng có
Nhân giả Diệu Cát Tường
Xin nguyện trừ chúng nghi

Bốn chúng hân hoan nhìn
Trông ngóng ngài và tôi
Vì sao Đức Thế Tôn
Phóng ánh quang minh kia?

Nhân Giả xin hãy nói
Đoạn nghi sanh hoan hỷ
Lợi ích như thế nào
Khi phóng hào quang đó?

Phật ngồi ở Đạo Tràng
Ngài đắc Pháp vi diệu
Có phải muốn thuyết giảng
Hay Ngài sẽ thọ ký?

Thị hiện các Phật độ
Thanh tịnh trang nghiêm báu
Cùng thấy chư Như Lai
Nhân duyên này chẳng nhỏ

Thưa ngài Diệu Cát Tường
Bốn chúng cùng long thần
Ngóng trông nơi Nhân Giả
Mong nói nhân duyên gì”

Lúc bấy giờ ngài Diệu Cát Tường nói với Từ Thị Đại Bồ-tát và các vị Đại Sĩ rằng:

“Các thiện nam tử! Theo như tôi nghĩ thì nay Đức Phật Thế Tôn muốn nói Pháp lớn, rưới mưa Pháp lớn, thổi loa Pháp lớn, đánh trống Pháp lớn, và diễn nói Pháp nghĩa lớn.

Các thiện nam tử! Ở chư Phật quá khứ, tôi đã từng thấy qua điềm lành này. Sau khi phóng hào quang xong, chư Phật liền nói đại Pháp. Vì thế phải biết rằng, nay Đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Đức Phật muốn khiến chúng sanh nghe biết được Pháp mà hết thảy thế gian đều khó tin, cho nên Ngài mới hiện điềm lành.

Các thiện nam tử! Đây cũng giống như vào thuở quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp chẳng thể nghĩ bàn. Lúc ấy có Đức Phật, hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Thế Tôn kia diễn nói Chánh Pháp ở lúc đầu, lúc giữa, và lúc cuối thảy đều chí thiện. Nghĩa đó sâu xa, lời nói thiện xảo vi diệu, thuần nhất không hỗn tạp, và đầy đủ các tướng của hạnh thanh tịnh.

– Vì người cầu Thanh Văn, Ngài ứng cơ thuyết Pháp Bốn Thánh Đế để họ thoát khỏi sanh già bệnh chết và đạt tới Cứu Cánh Tịch Diệt.
– Vì người cầu Độc Giác, Ngài ứng cơ thuyết Pháp 12 Duyên Khởi.
– Vì chư Bồ-tát, Ngài ứng cơ thuyết Pháp Sáu Độ, để khiến họ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và thành tựu Nhất Thiết Chủng Trí.

Tiếp đó lại có Đức Phật, cũng hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Kế đến lại có Đức Phật, cũng hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. 20.000 Đức Phật như thế đều đồng một danh hiệu, gọi là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Lại cũng đồng một họ, gọi là Lợi Căn.

Ngài Từ Thị! Nên biết rằng, vị Phật đầu tiên đến vị Phật cuối cùng đều đồng một danh hiệu, gọi là Nhật Nguyệt Đăng Minh–đầy đủ mười danh hiệu. Nơi Pháp thuyết giảng, lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối thảy đều chí thiện.

Lúc Đức Phật sau cùng còn chưa xuất gia, ngài có tám vương tử:

– vị vương tử thứ nhất tên là Hữu Ý;
– vị vương tử thứ nhì tên là Thiện Ý;
– vị vương tử thứ ba tên là Vô Lượng Ý;
– vị vương tử thứ tư tên là Bảo Ý;
– vị vương tử thứ năm tên là Tăng Ý;
– vị vương tử thứ sáu tên là Trừ Nghi Ý;
– vị vương tử thứ bảy tên là Hưởng Ý;
– vị vương tử thứ tám tên là Pháp Ý.

Tám vị vương tử này có uy đức tự tại và mỗi vị thống lãnh bốn châu thiên hạ. Khi các vương tử nghe tin phụ vương xuất gia và đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, họ đều xả bỏ ngôi vị của mình và cùng theo cha xuất gia. Họ phát tâm Đại Thừa và luôn tu tịnh hạnh. Khi tất cả đã trở thành Pháp sư, họ gieo trồng căn lành ở nơi của trăm ngàn chư Phật.

Lúc bấy giờ, Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thuyết Kinh Đại Thừa tên là Vô Lượng Nghĩa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.

Khi Đức Phật kia thuyết Kinh đó xong, Ngài liền ở giữa đại chúng, ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen và nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ Chánh Định–thân tâm bất động.

Ngay lúc ấy, trời mưa hoa vi diệu âm, hoa vi diệu âm lớn, hoa nhu nhuyễn, và hoa nhu nhuyễn lớn để rải lên Đức Phật cùng các đại chúng. Khi đó, khắp thế giới của chư Phật đều chấn động sáu cách.

Lúc bấy giờ trong Pháp hội có những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân, cùng các tiểu vương và Chuyển Luân Thánh Vương. Khi toàn thể đại chúng thấy được việc chưa từng có, họ vui mừng chắp tay và nhất tâm nhìn chăm chú Đức Phật.

Lúc bấy giờ Như Lai kia phóng một luồng ánh sáng từ tướng bạch hào ở giữa đôi chân mày, chiếu soi 18.000 Phật độ ở phương đông, không một nơi nào mà chẳng rọi tới. Đây cũng như các Phật độ hiện đang thấy bây giờ.

Ngài Từ Thị! Nên biết rằng, thuở ấy trong Pháp hội có 20 ức Bồ-tát và họ đều rất vui thích nghe Pháp. Khi chư Bồ-tát đó thấy ánh quang minh kia chiếu khắp Phật độ, họ được điều chưa từng có và muốn biết nhân duyên gì mà Đức Phật phóng hào quang này.

Khi ấy có một vị Bồ-tát tên là Diệu Quang; ngài có 800 đệ tử. Lúc ấy Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ chánh định dậy, Ngài vì Diệu Quang Bồ-tát mà thuyết Kinh Đại Thừa, tên là Diệu Pháp Liên Hoa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.

Trải qua 60 tiểu kiếp, Ngài chẳng rời khỏi Pháp tòa. Thính chúng trong Pháp hội kia cũng ngồi yên một chỗ đến 60 tiểu kiếp, thân tâm bất động. Họ nghe Phật thuyết Pháp suốt 60 tiểu kiếp mà thời gian tưởng chừng như một bữa ăn. Thuở đó trong đại chúng, không một người nào mà thân hoặc tâm sanh mệt mỏi.

Khi Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đã trải qua 60 tiểu kiếp nói Kinh đó xong, Ngài ở giữa đại chúng, bao gồm Phạm Vương, ma, Đạo Nhân, Phạm Chí, cùng trời, người và phi thiên mà tuyên nói lời thế này:

‘Giữa đêm nay Như Lai sẽ vào Vô Dư Tịch Diệt.’

Thuở ấy có một vị Bồ-tát được Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thọ ký, tên là Đức Tạng.

Đức Phật kia bảo các vị Bhikṣu rằng:

‘Đức Tạng Bồ-tát này đây kế đến sẽ làm Phật, hiệu là Tịnh Thân Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác.’

Khi Đức Phật kia thọ ký xong, vào lúc nửa đêm, Ngài vào Vô Dư Tịch Diệt. Sau khi Đức Phật kia diệt độ, Diệu Quang Bồ-tát thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và diễn nói cho người khác suốt 80 tiểu kiếp. Tám con trai của Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều tôn Diệu Quang Bồ-tát làm thầy. Diệu Quang Bồ-tát giáo hóa và khiến họ kiên cố nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi tám vị vương tử này đã cúng dường vô lượng tỷ ức chư Phật xong, họ đều thành Phật Đạo. Vị thành Phật cuối cùng tên là Nhiên Đăng.

Trong số 800 đệ tử của Diệu Quang Bồ-tát, có một người tên là Cầu Danh, rất tham lam lợi dưỡng. Tuy cũng đọc tụng Kinh điển nhưng chẳng thấu hiểu và phần lớn quên mất, cho nên mới gọi là Cầu Danh. Do bởi nhân duyên gieo trồng căn lành nên vị này cũng gặp vô lượng trăm ngàn ức chư Phật, cung kính cúng dường và tôn trọng tán thán.

Ngài Từ Thị! Nên biết rằng, Diệu Quang Bồ-tát lúc ấy, chẳng ai xa lạ, chính là tiền thân của tôi đây. Còn Cầu Danh Bồ-tát chính là tiền thân của ngài đấy.

Điềm lành trông thấy hôm nay và lúc xưa đều giống nhau không khác. Cho nên tôi nghĩ rằng, hôm nay Như Lai sẽ thuyết Kinh Đại Thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.”

Lúc bấy giờ ngài Diệu Cát Tường ở giữa đại chúng muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Tôi nhớ thuở quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Có Phật Nhân Trung Tôn
Hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh

Thế Tôn diễn nói Pháp
Độ vô lượng chúng sanh
Vô số ức Bồ-tát
Khiến vào trí của Phật

Lúc Phật chưa xuất gia
Ngài có tám vương tử
Thấy Đại Thánh xuất gia
Cũng theo tu tịnh hạnh

Bấy giờ Phật thuyết giảng
Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa
Ngài ở giữa đại chúng
Rộng vì họ phân biệt

Khi Phật thuyết Kinh xong
Liền ở trên Pháp tòa
Ngồi xếp bằng nhập định
Tên Vô Lượng Nghĩa Xứ

Mưa hoa vi diệu âm
Trống trời tự nhiên vang
Chư thiên long quỷ thần
Cúng dường Nhân Trung Tôn

Hết thảy chư Phật độ
Lập tức chấn động lớn
Phật phóng quang giữa mày
Hiện các việc hy hữu

Hào quang chiếu phương đông
Mười tám ngàn Phật độ
Hiển tất cả chúng sanh
Nơi nghiệp báo sanh tử

Thấy có chư Phật độ
Dùng châu báu trang nghiêm
Lưu ly màu pha lê
Đều do Phật quang chiếu

Cùng thấy hàng trời người
Long thần quỷ tiệp tật
Nghi thần tầm hương thần
Ai nấy cúng dường Phật

Lại thấy chư Như Lai
Tự nhiên thành Phật Đạo
Thân sắc như núi vàng
Đoan nghiêm thật vi diệu

Như trong tịnh lưu ly
Hiện hình tượng vàng ròng
Thế Tôn giữa đại chúng
Diễn nói Pháp nghĩa thâm

Mỗi chư Phật độ có
Vô số bậc Thanh Văn
Do Phật quang chiếu soi
Đều thấy đại chúng kia

Hoặc có các Bhikṣu
Cư trú trong núi rừng
Tinh tấn trì tịnh giới
Như bảo hộ minh châu

Lại thấy chư Bồ-tát
Tu hành Pháp Sáu Độ
Số ấy như Hằng sa
Đều do Phật quang chiếu

Lại thấy chư Bồ-tát
Vào sâu trong thiền định
Thân tâm tịch bất động
Chí cầu Đạo vô thượng

Lại thấy chư Bồ-tát
Biết pháp, tướng tịch diệt
Ở mỗi nơi cõi nước
Thuyết Pháp cầu Phật Đạo

Khi đó hàng bốn chúng
Thấy Nhật Nguyệt Đăng Phật
Hiện sức đại thần thông
Tâm họ đều hoan hỷ
Ai nấy đều hỏi nhau

‘Nhân duyên này là sao?’

Thế Tôn Thiên Nhân Sư
Liền từ chánh định dậy
Khen Diệu Quang Bồ-tát

‘Ông là mắt thế gian
Tất cả đều quy tín
Pháp tạng khéo phụng trì
Pháp do Ta thuyết giảng
Duy ông mới chứng biết’

Thế Tôn ngợi khen xong
Khiến Diệu Quang hoan hỷ
Rồi Phật thuyết Pháp Hoa
Trọn sáu mươi tiểu kiếp

Ngài chẳng rời Pháp tòa
Giảng vô thượng diệu Pháp
Pháp sư Diệu Quang ấy
Tất đều khéo thọ trì

Phật giảng Pháp Hoa xong
Khiến đại chúng hoan hỷ
Liền ở trong ngày đó
Ngài bảo hàng trời người

‘Nghĩa thật tướng các pháp
Đã dạy cho các ông
Ở vào giữa đêm nay
Ta sẽ vào tịch diệt

Các ông phải nhất tâm
Tinh tấn chớ buông lung
Dù một lần gặp Phật
Ức kiếp cũng khó được’

Các đệ tử Thế Tôn
Nghe Phật vào tịch diệt
Ai nấy đều buồn bã

‘Sao Phật vội diệt độ?’

Thánh Chủ bậc Pháp Vương
An ủi vô lượng chúng

‘Sau khi Ta diệt độ
Các ông chớ lo sợ
Đức Tạng Bồ-tát này
Vô lậu chân thật tướng
Tâm đã được thông đạt
Kế đến sẽ làm Phật
Danh hiệu là Tịnh Thân
Cũng độ vô số chúng’

Đêm đó Phật diệt độ
Như củi lửa thiêu xong
Phân phát các xá-lợi
Khởi xây vô lượng tháp

Bhikṣu Bhikṣuṇī
Số ấy như Hằng sa
Tinh tấn tăng gấp bội
Chí cầu Đạo vô thượng

Pháp sư Diệu Quang này
Phụng trì Phật Pháp tạng
Trong tám mươi tiểu kiếp
Rộng giảng Kinh Pháp Hoa

Còn tám vương tử đó
Được Diệu Quang giáo hóa
Kiên cố Đạo vô thượng
Họ thấy vô số Phật

Cúng dường chư Phật xong
Tùy thuận hành Đại Đạo
Tiếp đến sẽ thành Phật
Triển chuyển thọ ký nhau

Tối hậu Thiên Trung Thiên
Hiệu là Nhiên Đăng Phật
Đạo sư của chư tiên
Độ thoát vô lượng chúng

Pháp sư Diệu Quang này
Ngài có một đệ tử
Tâm thường hay lười biếng
Tham trước nơi danh lợi

Cầu danh lợi không chán
Hay đến nhà quyền quý
Xao lãng việc tụng niệm
Quên mất chẳng rõ thông

Do vì nguyên nhân ấy
Tên gọi là Cầu Danh
Bởi cũng làm việc lành
Nên gặp vô số Phật

Cúng dường các Đức Phật
Tùy thuận hành Đại Đạo
Đầy đủ Pháp Sáu Độ
Nay thấy Đức Năng Nhân

Về sau sẽ thành Phật
Danh hiệu là Từ Thị
Rộng độ các chúng sanh
Số ấy vô hạn lượng

Phật kia diệt độ rồi
Người lười biếng là ông
Còn Pháp sư Diệu Quang
Nay tức là thân tôi

Tôi thấy Đăng Minh Phật
Hào quang xưa như đây
Liền biết Phật hôm nay
Muốn giảng Kinh Pháp Hoa

Điềm tướng nay như xưa
Là chư Phật phương tiện
Nay Phật phóng quang minh
Giúp hiển nghĩa thật tướng

Nay đại chúng nên biết
Chắp tay thành tâm đợi
Phật sẽ rưới mưa Pháp
Mãn nguyện người cầu Đạo

Những ai cầu ba thừa
Nếu như có nghi hối
Phật sẽ đoạn trừ sạch
Khiến một chút chẳng còn”

♦ PHẨM 2: PHƯƠNG TIỆN

Lúc bấy giờ Thế Tôn từ chánh định an tường mà dậy, rồi bảo ngài Thu Lộ Tử rằng:

“Trí tuệ của chư Phật là thâm sâu vô lượng. Cánh cửa trí tuệ này khó vào và khó hiểu. Hết thảy hàng Thanh Văn cùng Độc Giác đều không thể biết.

Vì sao thế? Bởi Phật đã từng thân cận tỷ ức vô số chư Phật, tu hành hết thảy vô lượng Đạo Pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tấn, danh xưng vang khắp chốn, thành tựu các Pháp sâu xa chưa từng có, và tùy nghi nói những nghĩa thú khó lý giải.

Này Thu Lộ Tử! Từ khi thành Phật đến nay, Ta đã dùng mọi nhân duyên cùng mọi thí dụ để rộng diễn giải giáo Pháp. Với vô số phương tiện, Ta chỉ dẫn chúng sanh và khiến họ lìa xa mọi chấp trước.

Vì sao thế? Bởi Như Lai đã hoàn toàn viên mãn sức phương tiện, tri kiến, và các Pháp Đến Bờ Kia.

Này Thu Lộ Tử! Tri kiến của Như Lai quảng đại và thâm sâu vô lượng. Như Lai có Mười Lực vô ngại, Bốn Vô Sở Úy, thiền định, giải thoát, và chánh định. Như Lai vào sâu vô biên tế và thành tựu tất cả Pháp chưa từng có.

Này Thu Lộ Tử! Như Lai có thể phân biệt mọi việc, thiện xảo nói mọi pháp, ngôn từ hòa nhã, và làm vui lòng chúng sanh.

Này Thu Lộ Tử! Nói tóm lại, vô lượng vô biên Pháp chưa từng có, Phật thảy đều thành tựu.

Thôi đi, Thu Lộ Tử! Không cần phải nói thêm gì nữa.

Vì sao thế? Bởi các Pháp đệ nhất, hiếm có, và khó liễu giải mà Phật đã thành tựu, duy Phật với Phật mới có thể thông suốt thật tướng các pháp. Các pháp như là: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, và cứu cánh bình đẳng từ đầu đến cuối như vậy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Thế Hùng chẳng thể lường
Chư thiên và nhân thế
Hết thảy chúng sanh loại
Đều chẳng ai biết Phật

Phật Lực Bốn Vô Úy
Giải thoát các chánh định
Cùng Pháp khác của Phật
Đều chẳng ai lường được

Từng hầu vô số Phật
Tu hành các nghiệp đạo
Pháp vi diệu thâm sâu
Khó thấy khó liễu giải

Ở vô lượng ức kiếp
Đã tu các nghiệp đạo
Đạo Tràng chứng đắc Quả
Ta tất đều thấy biết

Đại quả báo như thế
Muôn thứ tánh tướng nghĩa
Ta cùng mười phương Phật
Mới biết được việc ấy

Pháp này chẳng thể thấy
Ngôn từ tướng tịch diệt
Hết mọi loài chúng sanh
Không ai liễu giải được
Duy trừ chư Bồ-tát
Với tín lực kiên cố

Các đệ tử của Phật
Từng cúng dường chư Phật
Hết thảy lậu đã tận
Trụ ở thân cuối cùng
Sức các vị như thế
Cũng chẳng thể kham thọ

Giả sử khắp thế gian
Đều như Thu Lộ Tử
Tận kiếp cùng suy nghĩ
Chẳng thể rõ Phật trí

Cho dù khắp mười phương
Đều như Thu Lộ Tử
Và các đệ tử khác
Cũng đầy mười phương giới
Tận kiếp đồng suy nghĩ
Cũng lại chẳng thể biết

Độc Giác bậc lợi trí
Vô lậu thân cuối cùng
Cũng đầy mười phương giới
Số ấy như rừng trúc
Nhất tâm cùng suy lường
Đến vô lượng ức kiếp
Suy nghĩ Phật chân trí
Tí ti cũng chẳng biết

Sơ phát tâm Bồ-tát
Cúng dường vô số Phật
Liễu đạt các nghĩa thú
Lại khéo hay thuyết Pháp
Như lúa gai trúc lau
Đầy khắp mười phương giới
Nhất tâm dùng diệu trí
Trong Hằng Hà sa kiếp
Đều cộng hợp suy lường
Cũng chẳng biết Phật trí

Bồ-tát không thoái chuyển
Số ấy như Hằng sa
Nhất tâm đồng muốn nghĩ
Cũng chẳng thể liễu tri

Lại nữa Thu Lộ Tử
Vô lậu chẳng nghĩ bàn
Pháp vi diệu thâm sâu
Ta nay đã viên mãn
Duy Ta biết tướng này
Mười phương Phật cũng vậy

Thu Lộ Tử nên biết
Lời chư Phật không khác
Pháp của chư Phật nói
Ông nên sanh tín lực
Pháp Thế Tôn sau cùng
Chân thật phải nói ra

Ta bảo các Thanh Văn
Người cầu Duyên Giác Thừa
Ta khiến thoát khổ lụy
Và sẽ đến tịch diệt

Phật dùng sức phương tiện
Khai thị ba thừa giáo
Chúng sanh chấp mọi điều
Dẫn họ thoát ra khỏi”

Lúc bấy giờ trong đại chúng có những vị Thanh Văn, bậc Ứng Chân với các lậu đã tận, Tôn giả Giải Bổn Tế với các vị khác như thế, 1.200 người cả thảy, cùng những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, và Thanh Tín Nữ đã phát tâm muốn trở thành Thanh Văn hay Độc Giác.

Mỗi vị đều nghĩ như vầy:

“Vì sao hôm nay Thế Tôn lại ân cần tuyên dương và ngợi khen phương tiện mà nói rằng,

‘Pháp của Phật chứng đắc rất thâm sâu và khó liễu giải, lời nói và ý thú của Phật khó biết. Tất cả hàng Thanh Văn cùng Độc Giác đều chẳng thể thấu rõ.’

Phật đã nói một nghĩa lý của giải thoát, chúng ta cũng đã đắc Pháp này và đã đến tịch diệt, nhưng giờ đây chúng ta cũng chẳng biết nghĩa thú của Ngài.”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử biết trong lòng của bốn chúng đệ tử có điều nghi và tự biết chính mình cũng chưa hiểu rõ, nên bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà Như Lai ân cần tuyên dương và ngợi khen phương tiện đệ nhất của chư Phật, là Pháp vi diệu thâm sâu khó liễu giải? Từ xưa đến giờ, con chưa từng nghe Phật nói điều như thế. Nay bốn chúng đệ tử đều có chỗ nghi. Kính mong Thế Tôn hãy diễn giải việc ấy. Vì sao Thế Tôn ân cần tuyên dương và tán thán Pháp vi diệu thâm sâu khó liễu giải?”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Tuệ nhật Đại Thánh Tôn
Sau cuối thuyết Pháp này
Nói điều Ngài chứng đắc
Chánh định, Lực, Vô Úy
Thiền định và giải thoát
Pháp chẳng thể nghĩ bàn

Đạo Tràng nơi đắc Pháp
Chẳng ai có thể hỏi
Đến con khó liễu giải
Cũng chẳng biết hỏi ai
Vô vấn mà tự nói
Xưng thán nơi hành Đạo
Trí tuệ vi diệu sâu
Nơi chư Phật chứng đắc

Vô lậu bậc Ứng Chân
Cùng người cầu tịch diệt
Nay đều sa lưới nghi
Vì sao Phật nói thế?

Người cầu Đạo Duyên Giác
Bhikṣu Bhikṣuṇī
Chư thiên long quỷ thần
Cùng chúng tầm hương thần
Nhìn nhau trông ngơ ngác
Chiêm ngưỡng Lưỡng Túc Tôn
‘Việc này là thế nào?
Nguyện Phật hãy giảng giải’

Ở trong hàng Thanh Văn
Phật nói con đệ nhất
Nhưng nay với trí con
Chẳng thể giải điều nghi
Có phải Pháp cứu cánh?
Hay là nơi hành Đạo?

Phật tử miệng Phật sanh
Chắp tay chiêm ngưỡng trông
Xin nói vi diệu âm
Mong Phật nói nghĩa thâm

Chư thiên long quỷ thần
Số ấy như Hằng sa
Bồ-tát cầu Phật Đạo
Tổng số có tám vạn

Vạn ức cõi phương khác
Chuyển Luân Thánh Vương đến
Chắp tay lòng thành khẩn
Muốn nghe Đạo viên mãn”

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Thôi đi! Thôi đi! Không cần phải nói thêm gì nữa. Nếu Ta nói việc này thì hàng trời người trong tất cả thế gian đều sẽ kinh sợ và sanh lòng hoài nghi.”

Ngài Thu Lộ Tử lại thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Kính mong hãy nói! Kính mong hãy nói!

Vì sao thế? Bởi trong Pháp hội này có vô số tỷ ức vô số chúng sanh đã từng thấy chư Phật, có các căn lanh lợi và trí tuệ sáng suốt. Khi nghe Phật nói, họ liền có thể cung kính và tín thọ.”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Pháp Vương Vô Thượng Tôn
Xin nói chớ lưỡng lự
Pháp hội vô lượng chúng
Họ có thể kính tin”

Đức Phật lại cản ngài Thu Lộ Tử:

“Nếu Ta nói việc này thì hàng trời người trong tất cả thế gian đều sẽ kinh sợ và sanh lòng hoài nghi. Còn hàng Bhikṣu tăng thượng mạn sẽ rơi xuống hầm lửa lớn.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn tuyên lại nghĩa lý ở trên với bài kệ rằng:

“Thôi thôi đừng nói nữa
Pháp Ta diệu vô cùng
Những hàng tăng thượng mạn
Khi nghe chẳng kính tin”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử lại thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Kính mong hãy nói! Kính mong hãy nói! Nay ở trong Pháp hội đây có một tỷ ức vị bằng như con. Đời đời họ đã từng được Phật giáo hóa. Hàng người như thế tất sẽ có thể cung kính và tín thọ. Trong đêm dài, họ sẽ được bình an và có nhiều lợi ích.”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Vô thượng Lưỡng Túc Tôn
Xin nói Pháp đệ nhất
Con là Phật trưởng tử
Mong Ngài phân biệt nói

Pháp hội vô lượng chúng
Sẽ kính tin Pháp này
Phật đã từng đời đời
Giáo hóa người như thế

Một lòng đồng chắp tay
Muốn nghe lời Phật dạy
Chúng con một ngàn hai
Cùng người cầu Phật Đạo

Nguyện vì đại chúng đây
Mong Ngài phân biệt nói
Khi họ nghe Pháp này
Tức sanh đại hoan hỷ”

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Ông đã ân cần thỉnh cầu đến ba lần, làm sao Như Lai chẳng thể không nói. Ông nay lắng nghe và khéo tư duy. Ta sẽ phân biệt và giảng giải cho ông.”

Khi nói lời ấy xong, trong đại hội có 5.000 vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, và Thanh Tín Nữ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật rồi cáo lui.

Vì sao thế? Bởi tội căn của những hạng người đó thâm trọng và còn tăng thượng mạn. Chưa đắc mà nói đã đắc. Chưa chứng mà nói đã chứng. Với các lỗi lầm như thế nên chẳng thể ở lại. Thế Tôn lặng yên và không cản ngăn họ.

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Thính chúng của Ta bây giờ đã không còn nhánh và lá, mà chỉ thuần nhất toàn thân cây.

Này Thu Lộ Tử! Thật rất tốt khi hạng người tăng thượng mạn như thế rời khỏi. Ông nay hãy lắng nghe. Ta sẽ thuyết giảng cho ông.”

Ngài Thu Lộ Tử thưa rằng:

“Dạ vâng, thưa Thế Tôn! Con vui thích muốn nghe.”

Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Diệu Pháp của chư Phật Như Lai chỉ nói trong một dịp đặc biệt, như hoa linh thụy rất lâu mới nở một lần.

Này Thu Lộ Tử! Các ông nên tín thọ lời của Ta nói. Đó là vì lời của Phật quyết không hư vọng.

Này Thu Lộ Tử! Chư Phật tùy duyên thuyết Pháp, nghĩa thú khó giải.

Vì sao thế? Bởi Ta dùng vô số phương tiện cùng mọi nhân duyên và ngôn từ thí dụ để diễn nói các Pháp. Pháp này chẳng thể suy lường hay phân biệt mà có thể lý giải được. Duy chỉ có chư Phật mới có thể biết.

Vì sao thế? Bởi chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian chỉ vì một đại sự nhân duyên.

Này Thu Lộ Tử! Chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian chỉ vì một đại sự nhân duyên nghĩa là sao?

– Chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian là vì muốn khiến chúng sanh Mở Tri Kiến của Phật để được thanh tịnh.
– Chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian là vì muốn khiến chúng sanh Thấy Tri Kiến của Phật.
– Chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian là vì muốn khiến chúng sanh Hiểu Tri Kiến của Phật.
– Chư Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian là vì muốn khiến chúng sanh Vào Tri Kiến của Phật.

Này Thu Lộ Tử! Đây là những việc của một đại sự nhân duyên mà chư Phật xuất hiện ở thế gian.”

Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát. Các hạnh làm của chư Phật luôn chỉ vì một việc: đó là khai ngộ chúng sanh đến tri kiến của Phật.

Này Thu Lộ Tử! Như Lai chỉ dùng một Phật Thừa để thuyết Pháp cho chúng sanh. Không có thừa nào khác, không hai cũng không ba.

Này Thu Lộ Tử! Pháp của tất cả mười phương chư Phật cũng lại như vậy.

Này Thu Lộ Tử! Chư Phật vào thuở quá khứ đã dùng vô lượng vô số phương tiện cùng đủ mọi nhân duyên và ngôn từ thí dụ mà diễn nói các Pháp cho chúng sanh. Các Pháp này đều là vì một Phật Thừa. Khi các chúng sanh này nghe Pháp từ chư Phật thì cứu cánh đều sẽ đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Này Thu Lộ Tử! Vào đời vị lai, chư Phật xuất hiện ở thế gian cũng sẽ dùng vô lượng vô số phương tiện cùng đủ mọi nhân duyên và ngôn từ thí dụ mà diễn nói các Pháp cho chúng sanh. Các Pháp này đều là vì một Phật Thừa. Khi các chúng sanh này nghe Pháp từ chư Phật thì cứu cánh đều sẽ đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Này Thu Lộ Tử! Hiện tại ở vô lượng tỷ ức Phật độ trong mười phương, chư Phật Thế Tôn đang làm nhiều việc lợi ích an vui cho chúng sanh. Các Đức Phật đó cũng đang dùng vô lượng vô số phương tiện cùng đủ mọi nhân duyên và ngôn từ thí dụ mà diễn nói các Pháp cho chúng sanh. Các Pháp này đều là vì một Phật Thừa. Khi các chúng sanh này nghe Pháp từ chư Phật thì cứu cánh đều sẽ đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Này Thu Lộ Tử! Chư Phật đó chỉ giáo hóa Bồ-tát là vì chư Phật muốn chỉ dẫn chúng sanh thấy tri kiến của Phật, muốn giác ngộ chúng sanh đến tri kiến của Phật, và muốn dẫn chúng sanh vào tri kiến của Phật.

Này Thu Lộ Tử! Ta nay cũng lại như vậy. Ta biết các chúng sanh có đủ mọi điều mong muốn với tùy theo căn tánh mà cõi lòng bám vào, nên Như Lai dùng đủ mọi nhân duyên cùng ngôn từ thí dụ và sức phương tiện mà thuyết Pháp cho họ.

Này Thu Lộ Tử! Ta làm như thế để họ đều đắc Nhất Thiết Chủng Trí của một Phật Thừa.

Này Thu Lộ Tử! Ở các thế giới trong mười phương còn chẳng có hai thừa, huống nữa là ba.

Này Thu Lộ Tử! Chư Phật xuất hiện trong đời ác năm trược, bao gồm: ô trược của thời gian, ô trược của cái thấy, ô trược của phiền não, ô trược của chúng sanh, và ô trược của thọ mạng.

Vì thế, Thu Lộ Tử! Do bởi ở trong kiếp ô trược hỗn loạn, chúng sanh tạo nghiệp nặng bất tịnh, tham lam đố kỵ, và thành tựu các căn chẳng lành. Cho nên chư Phật dùng sức phương tiện, ở trong một Phật Thừa mà phân biệt nói có ba.

Này Thu Lộ Tử! Nếu có đệ tử của Ta tự gọi mình là bậc Ứng Chân hay Độc Giác mà chẳng nghe chẳng biết về việc chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, thì người ấy không phải là đệ tử của Phật, cũng chẳng phải là bậc Ứng Chân hay Độc Giác.

Lại nữa, Thu Lộ Tử! Các vị Bhikṣu hoặc Bhikṣuṇī nào tự cho mình đã đắc Đạo Ứng Chân, trụ ở thân cuối cùng và sẽ đạt tới Cứu Cánh Tịch Diệt, nhưng lại chẳng chí cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì phải biết họ đều là hạng người tăng thượng mạn.

Vì sao thế? Bởi nếu có vị Bhikṣu nào thật sự đắc Đạo Ứng Chân mà chẳng tin Pháp này thì quyết không thể có việc ấy–duy trừ sau khi Phật diệt độ và ở hiện đời không có Phật.

Vì sao thế? Bởi sau khi Phật diệt độ, những ai thọ trì đọc tụng và giảng giải nghĩa thú của các Kinh như vậy, thì người này rất khó gặp. Nếu họ gặp chư Phật khác thì sẽ ở trong Pháp này liền được thông triệt.

Này Thu Lộ Tử! Các ông nên nhất tâm tín giải và thọ trì lời Phật dạy. Lời nói của chư Phật Như Lai quyết không hư dối. Không có thừa nào khác, duy chỉ có một Phật Thừa.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Bhikṣu Bhikṣuṇī
Ôm lòng tăng thượng mạn
Thanh Tín Nam ngã mạn
Thanh Tín Nữ bất tín

Hàng bốn chúng như thế
Số ấy có năm ngàn
Chẳng thấy lỗi của mình
Giới luật bị khuyết lậu
Tiếc giữ điều lỗi lầm

Hàng trí nhỏ vỏ trấu
Đã rời khỏi đại chúng
Do uy đức của Phật
Những người thiếu phước đức
Chẳng kham thọ Pháp này
Chúng hội không nhánh lá
Duy chỉ có thân cây

Thu Lộ Tử lắng nghe
Chư Phật Pháp chứng đắc
Vô lượng sức phương tiện
Vì chúng sanh thuyết giảng

Tâm niệm của chúng sanh
Đủ mọi nơi ngõ ngách
Căn tánh điều mong muốn
Nghiệp lành dữ đời trước

Phật thảy đều biết rõ
Dùng thí dụ nhân duyên
Ngôn từ sức phương tiện
Khiến tất cả vui mừng

Hoặc thuyết giảng Khế Kinh
Cô Khởi cùng Bổn Sự
Bổn Sanh Vị Tằng Hữu
Cũng nói về Nhân Duyên
Thí Dụ hay Trùng Tụng
Hoặc nói đến Luận Nghị

Độn căn thích Pháp nhỏ
Tham chấp nơi sanh tử
Ở vô lượng chư Phật
Chẳng tu Đạo vi diệu
Bị khổ ách não loạn
Vì họ nói tịch diệt

Ta thiết lập phương tiện
Khiến họ vào Phật trí
Chưa hề nói các ông
Sẽ được thành Phật Đạo

Sở dĩ chưa từng nói
Vì chưa tới thời điểm
Nay chính là lúc này
Quyết định dạy Đại Thừa

Chín bộ Pháp của Ta
Tùy thuận chúng sanh nói
Là để vào Đại Thừa
Nên Ta giảng Kinh này

Phật tử nào tâm tịnh
Tùy thuận cùng lợi căn
Ở vô lượng chư Phật
Đã tu Đạo vi diệu
Vì hàng Phật tử đó
Thuyết Kinh Đại Thừa này

Ta thọ ký người ấy
Vị lai thành Phật Đạo
Với tâm thành niệm Phật
Tu hành trì tịnh giới

Khi nghe sẽ thành Phật
Vui mừng biến khắp thân
Phật biết rõ tâm hạnh
Vì họ dạy Đại Thừa

Thanh Văn hay Bồ-tát
Nghe Ta thuyết Pháp này
Dù chỉ một bài kệ
Đều nhất định thành Phật

Phật độ trong mười phương
Chỉ có Pháp Nhất Thừa
Chẳng hai cũng chẳng ba
Trừ Phật phương tiện nói
Chỉ là giả danh tự
Để dẫn dắt chúng sanh
Dạy họ trí của Phật

Chư Phật xuất thế gian
Thật chỉ có một việc
Hai việc khác chẳng thật
Cuối không dùng Nhị Thừa
Để cứu độ chúng sanh

Chính Phật trụ Đại Thừa
Tùy thuận Pháp chứng đắc
Định tuệ lực trang nghiêm
Dùng đó độ chúng sanh

Tự chứng Đạo vô thượng
Pháp Đại Thừa bình đẳng
Nếu dùng Nhị Thừa dạy
Cho đến chỉ một người
Ta tức đọa keo tiếc
Quyết chẳng có việc này

Nếu ai quy tín Phật
Như Lai chẳng lừa dối
Cũng không đố kỵ tham
Đoạn trừ mọi pháp ác
Nên Phật ở mười phương
Tự tại không sợ hãi

Ta dùng tướng nghiêm thân
Quang minh chiếu thế gian
Vô lượng người tôn kính
Ta nói ấn thật tướng

Thu Lộ Tử nên biết
Ta xưa lập thệ nguyện
Muốn khiến hết tất cả
Như Ta chẳng sai khác

Sở nguyện Ta lúc xưa
Giờ đây đã viên mãn
Hóa độ hết thảy chúng
Khiến đều vào Phật Đạo

Nếu Ta gặp chúng sanh
Hết lòng dạy Phật Đạo
Kẻ vô trí cuồng loạn
Mê muội chẳng tín thọ

Ta biết chúng sanh này
Chưa từng tu căn lành
Cố bám nơi năm dục
Si ái sanh khổ não

Bởi nhân duyên tham dục
Sa đọa ba đường ác
Luân hồi trong sáu đường
Phải chịu muôn khổ độc

Đầu thai hình bé nhỏ
Đời đời luôn tăng trưởng
Kẻ đức bạc phước mỏng
Bị khổ ách bức bách

Vào rừng rậm tà kiến
Chấp thường chấp đoạn diệt
Bám nương các kiến này
Tổng số sáu mươi hai

Chấp sâu pháp hư vọng
Kiên trì thọ chẳng xả
Ngã mạn tự khoe khoang
Nịnh hót lòng dối trá

Trong ngàn vạn ức kiếp
Không nghe danh hiệu Phật
Cũng không nghe Chánh Pháp
Người như thế khó độ

Cho nên Thu Lộ Tử
Vì họ lập phương tiện
Ta dạy cách diệt khổ
Hiển thị đến tịch diệt
Tuy Ta nói tịch diệt
Nhưng chẳng phải thật diệt

Các pháp vốn xưa nay
Tướng chúng luôn tịch diệt
Phật tử nào tu hành
Vị lai sẽ thành Phật

Ta có sức phương tiện
Khai thị Pháp ba thừa
Tất cả chư Thế Tôn
Đều nói Đạo Nhất Thừa

Nay các đại chúng đây
Đều nên trừ hoài nghi
Lời Phật chẳng sai khác
Duy một thừa không hai

Quá khứ vô số kiếp
Vô lượng Phật diệt độ
Tỷ ức Phật như thế
Số ấy chẳng thể lường

Chư Thế Tôn như thế
Thí dụ mọi nhân duyên
Vô số sức phương tiện
Diễn nói các pháp tướng

Chư Phật Thế Tôn đó
Đều thuyết Pháp Nhất Thừa
Hóa vô lượng chúng sanh
Khiến họ vào Phật Đạo

Lại nữa chư Đại Thánh
Biết tất cả thế gian
Trời người các chúng sanh
Đáy lòng nơi mong muốn
Nên dùng phương tiện khác
Giúp hiển Đệ Nhất Nghĩa

Nếu có chúng sanh nào
Gặp chư Phật quá khứ
Nghe Pháp rồi Bố Thí
Hoặc Trì Giới Nhẫn Nhục
Tinh Tấn Thiền Định Trí
Tu hành mọi phước tuệ
Những hành giả như thế
Đều đã thành Phật Đạo

Chư Phật diệt độ rồi
Nếu tâm ai tùy thuận
Các chúng sanh như thế
Đều đã thành Phật Đạo

Chư Phật diệt độ rồi
Ai cúng dường xá-lợi
Khởi xây vạn ức tháp
Vàng bạc cùng pha lê
Xa cừ với mã não
Mai côi lưu ly châu
Thanh tịnh rộng trang nghiêm
Trang hoàng các tháp đó

Hoặc khởi xây miếu đá
Hương đàn hay trầm thủy
Gỗ thơm hay gỗ khác
Gạch ngói hay đất sét

Nếu ở nơi hoang vắng
Đắp đất thành miếu Phật
Dù con nít nô đùa
Dồn cát làm tháp Phật
Thì những người như thế
Đều đã thành Phật Đạo

Nếu ai vì kính Phật
Kiến lập các hình tượng
Điêu khắc Phật tướng hảo
Đều đã thành Phật Đạo

Hoặc lấy thành bảy báu
Đồng thau màu đỏ trắng
Bạch lạp hay chì thiếc
Sắt gỗ hay đất sét

Hoặc lấy vải keo sơn
Trang trí làm tượng Phật
Thì những người như thế
Đều đã thành Phật Đạo

Tô vẽ làm tượng Phật
Trăm phước tướng trang nghiêm
Tự làm hoặc bảo người
Đều đã thành Phật Đạo

Dù con nít đùa vui
Với cỏ cây hay bút
Hoặc dùng đầu móng tay
Mà vẽ làm tượng Phật

Thì những người như thế
Dần dần tích công đức
Đầy đủ tâm đại bi
Đều đã thành Phật Đạo

Chỉ giáo hóa Bồ-tát
Phật độ vô lượng chúng
Nếu ai ở chùa tháp
Tượng báu cùng tượng vẽ
Dùng phan lọng hoa hương
Tâm cung kính cúng dường

Hoặc bảo người trỗi nhạc
Đánh trống thổi kèn ốc
Tiêu cầm sáo đàn tre
Tỳ bà hay chiêng đồng
Các diệu âm như thế
Tấu vang để cúng dường

Hoặc với lòng hoan hỷ
Ca vịnh tán Phật đức
Dù chỉ một tiếng nhỏ
Đều đã thành Phật Đạo

Nếu lòng ai tán loạn
Dù chỉ một đóa hoa
Cúng dường nơi tượng vẽ
Sẽ thấy vô số Phật

Hoặc có người lễ bái
Hoặc lại chỉ chắp tay
Dù chỉ nhấc tay lên
Hoặc chỉ hơi cúi đầu
Để mà cúng dường tượng
Sẽ thấy vô lượng Phật

Tự thành Đạo vô thượng
Rộng độ vô số chúng
Vào Vô Dư Tịch Diệt
Như củi lửa thiêu xong

Nếu lòng ai tán loạn
Họ vào chùa tháp Phật
Một tiếng “Quy Y Phật”
Đều đã thành Phật Đạo

Ở chư Phật quá khứ
Tại thế hoặc diệt độ
Nếu ai nghe Pháp này
Đều đã thành Phật Đạo

Vị lai chư Thế Tôn
Số ấy vô hạn lượng
Chư Như Lai như thế
Cũng phương tiện thuyết Pháp

Hết thảy chư Như Lai
Dùng vô lượng phương tiện
Độ thoát các chúng sanh
Vào Phật trí vô lậu

Nếu có ai nghe Pháp
Không ai chẳng thành Phật
Chư Phật bổn thệ nguyện
‘Phật Đạo nơi tu hành
Muốn khiến khắp chúng sanh
Cũng đồng đắc Đạo này’

Chư Phật ở vị lai
Tuy nói trăm ngàn ức
Vô số các Pháp môn
Kỳ thật vì Nhất Thừa

Chư Phật Lưỡng Túc Tôn
Biết pháp thường vô tánh
Phật chủng tùy duyên khởi
Thế nên nói Nhất Thừa

Pháp này trụ Pháp vị
Thế gian tướng thường trụ
Tại Đạo Tràng đã biết
Đạo sư phương tiện dạy

Thọ cúng dường trời người
Hiện tại mười phương Phật
Số ấy như Hằng sa
Xuất hiện ở thế gian
Vì an định chúng sanh
Cũng thuyết Pháp như vậy

Biết đệ nhất tịch diệt
Phật dùng sức phương tiện
Tuy hiển thị mọi cách
Kỳ thật vì Nhất Thừa

Biết việc làm chúng sanh
Đáy lòng nơi ý niệm
Nghiệp tích tập thuở xưa
Ước mong sức tinh tấn
Cùng các căn lợi độn
Phật dùng mọi nhân duyên
Thí dụ và ngôn từ
Tùy cơ phương tiện nói
Ta nay cũng như vậy

Vì an định chúng sanh
Dùng đủ mọi Pháp môn
Tuyên dương hiển Phật Đạo
Ta dùng sức trí tuệ
Biết chúng sanh ước mong
Phương tiện nói các Pháp
Khiến đều được hoan hỷ

Thu Lộ Tử nên biết
Ta dùng Phật nhãn quán
Thấy chúng sanh sáu đường
Bần cùng không phước tuệ
Vào sanh tử hiểm đạo
Khổ liên tục chẳng ngớt

Chấp sâu nơi năm dục
Như mao ngưu mến đuôi
Tự đắm chìm tham ái
Mù tối không thấy gì

Chẳng cầu Phật đại trí
Cùng Pháp đoạn khổ não
Rơi sâu vào tà kiến
Muốn trừ khổ với khổ

Vì chúng sanh như thế
Ta khởi tâm đại bi
Lúc mới ngồi Đạo Tràng
Quán cây hoặc kinh hành

Ở trong hai mốt ngày
Tư duy việc như vầy
‘Trí tuệ Ta chứng đắc
Vi diệu tối đệ nhất

Chúng sanh các căn độn
Si mê ham hưởng thụ
Các hữu tình như thế
Làm sao mà hóa độ?’

Khi ấy các Phạm Vương
Chư thiên Năng Thiên Đế
Hộ Thế Tứ Thiên Vương
Với Đại Tự Tại Thiên
Và hàng thiên chúng khác
Cùng một tỷ quyến thuộc
Cung kính chắp tay lễ
Thỉnh Ta chuyển Pháp luân

Ta liền tự tư duy
‘Nếu chỉ khen Phật Thừa
Chúng sanh trầm luân khổ
Không thể tin Pháp này
Do hủy báng chẳng tin
Sa đọa ba đường ác
Ta tốt hơn chẳng nói
Nên mau vào tịch diệt’

Rồi nhớ Phật quá khứ
Việc làm sức phương tiện
Ta nay đã đắc Đạo
Cũng nên nói ba thừa

Khi tư duy như thế
Mười phương Phật đều hiện
Phạm âm khích lệ Ta
‘Lành thay Đức Năng Nhân
Bậc đạo sư đệ nhất’

Đắc Pháp vô thượng này
Tùy thuận tất cả Phật
Mà dùng sức phương tiện
Chư Phật cũng đều đắc
Tối diệu Pháp đệ nhất
Vì các loài chúng sanh
Phân biệt nói ba thừa

Trí kém thích Pháp nhỏ
Không tin sẽ thành Phật
Nên Phật dùng phương tiện
Phân biệt nói các Quả
Mặc dù nói ba thừa
Chỉ vì dạy Bồ-tát

Thu Lộ Tử nên biết
Ta nghe Thánh Sư Tử
Thanh tịnh vi diệu âm
Vui niệm “Quy Y Phật”

Lại suy nghĩ như vầy
‘Ta ở đời ác trược
Như lời chư Phật dạy
Ta cũng nên tùy thuận’

Tư duy việc đó rồi
Liền đến thành Lộc Dã
Tướng các pháp tịch diệt
Chẳng thể dùng ngôn từ
Ta dùng sức phương tiện
Giảng cho năm Bhikṣu
Đây là Chuyển Pháp Luân

Liền có tiếng tịch diệt
Cùng danh xưng Ứng Chân
Pháp, Tăng, các tên khác
Từ kiếp xưa đến nay
Tán thán Pháp tịch diệt
Sanh tử khổ vĩnh trừ
Ta thường nói như vậy

Thu Lộ Tử nên biết
Ta thấy các Phật tử
Quyết chí cầu Phật Đạo
Vô lượng ngàn vạn ức
Với hết lòng cung kính
Đều đến chỗ của Phật
Nghe từ nơi chư Phật
Phương tiện thuyết giảng Pháp

Ta liền nghĩ như vầy
‘Như Lai hiện ở đời
Là vì nói Phật trí
Nay chính là lúc này’

Thu Lộ Tử nên biết
Người độn căn trí nhỏ
Kẻ chấp tướng kiêu mạn
Chẳng thể tin Pháp này

Ta nay tâm hoan hỷ
Ở trong chư Bồ-tát
Quyết định bỏ phương tiện
Chỉ nói Đạo vô thượng

Bồ-tát nghe Pháp này
Lưới nghi đều trừ sạch
Ngàn hai vị Ứng Chân
Cũng đều sẽ thành Phật

Như chư Phật ba đời
Nghi thức để thuyết Pháp
Ta nay cũng như vậy
Giảng Pháp vô phân biệt

Chư Phật xuất thế gian
Lâu xa rất khó gặp
Dù xuất hiện thế gian
Chẳng dễ thuyết Pháp này
Vô lượng vô số kiếp
Cũng khó nghe Pháp ấy

Những ai nghe Pháp này
Người như vậy khó tìm
Ví như hoa linh thụy
Tất cả đều ưa thích
Hiếm nhất trong trời người
Rất lâu nở một lần

Nghe Pháp rồi tán thán
Cho đến chỉ một lời
Tức là đã cúng dường
Hết thảy Phật ba đời

Người này thật hiếm có
Hơn cả hoa linh thụy
Các ông chớ hoài nghi
Ta làm bậc Pháp Vương
Rộng bảo các đại chúng
‘Chỉ dùng Đạo Nhất Thừa
Giáo hóa chư Bồ-tát
Không đệ tử Thanh Văn’

Thu Lộ Tử các ông
Thanh Văn cùng Bồ-tát
Nên biết diệu Pháp này
Là bí yếu chư Phật

Trong đời ác năm trược
Chỉ ưa thích năm dục
Hàng chúng sanh như thế
Quyết chẳng cầu Phật Đạo

Kẻ ác đời vị lai
Nghe Phật giảng Nhất Thừa
Mê muội chẳng tín thọ
Hủy Pháp đọa đường ác

Người hổ thẹn thanh tịnh
Quyết chí cầu Phật Đạo
Sẽ vì người như thế
Ta rộng khen Nhất Thừa

Thu Lộ Tử nên biết
Pháp chư Phật như vậy
Với muôn ức phương tiện
Tùy nghi mà thuyết Pháp

Những ai không học tập
Chẳng thể thấu hiểu rõ
Các ông đều đã biết
Chư Phật Thầy Thế Gian
Tùy nghi dùng phương tiện
Không còn mọi hoài nghi
Tâm sanh đại hoan hỷ
Tự biết sẽ thành Phật”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 1

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 2

♦ PHẨM 3: THÍ DỤ

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử vui mừng hớn hở, liền đứng dậy, chắp tay, chiêm ngưỡng tôn nhan, rồi thưa với Phật rằng:

“Con nay nghe được Pháp âm này từ Thế Tôn, cõi lòng vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.

Vì sao thế? Bởi vào thuở xưa, con đã nghe Pháp như vầy từ Đức Phật và thấy chư Bồ-tát được thọ ký thành Phật. Tuy nhiên, đối với việc đó thì chúng con không có phần tham dự. Con cảm thấy đau xót vô cùng vì con đã đánh mất vô lượng tri kiến của Như Lai.

Thưa Thế Tôn! Con thường một mình ở dưới gốc cây trong rừng, hoặc ngồi hay kinh hành.

Con luôn nghĩ như vầy:

‘Chúng ta đều cùng vào Pháp tánh. Tại sao Như Lai dùng Pháp Nhị Thừa để hóa độ? Đây là lỗi của chúng ta chớ chẳng phải lỗi của Thế Tôn.’

Vì sao thế? Bởi nếu chúng con chờ đợi nghe thuyết giảng về nhân duyên thành tựu của Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì chắc chắn rằng chúng con đã được độ thoát bởi Pháp Đại Thừa. Tuy nhiên, chúng con đã không hiểu lời nói phương tiện tùy nghi. Cho nên, khi mới bắt gặp và nghe Phật Pháp, chúng con liền tín thọ, tư duy, và chứng Quả.

Thưa Thế Tôn! Từ xưa đến nay, suốt cả ngày lẫn đêm, con cứ luôn tự trách. Bây giờ, con nghe được Pháp mà chưa từng nghe qua. Thế nên, con đoạn trừ tất cả hoài nghi, khiến thân tâm an lạc và được bình an thanh thản. Mãi đến hôm nay, con mới biết rằng mình là đệ tử chân chánh của Phật, sanh ra từ miệng của Phật, hóa sanh từ Pháp, và được một phần trong Phật Pháp.”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Con nghe Pháp âm này
Được điều chưa từng có
Cõi lòng vui khôn xiết
Lưới nghi đều đã trừ

Xưa nhờ ơn Phật dạy
Không quên mất Đại Thừa
Tiếng Phật rất hiếm có
Khéo trừ khổ chúng sanh
Con đã được lậu tận
Khi nghe trừ buồn lo

Con trú nơi sơn cốc
Hay ở dưới gốc cây
Hoặc ngồi hay kinh hành
Luôn tư duy việc này

Than ôi! Lòng tự trách
Sao tự lừa dối mình?
Chúng ta cũng Phật tử
Đồng vào Pháp vô lậu
Nhưng vị lai chẳng thể
Diễn nói Đạo vô thượng

Sắc vàng ba hai tướng
Mười Lực các Giải Thoát
Cùng hợp trong một Pháp
Nhưng không được việc này

Tám mươi loại vẻ đẹp
Mười Tám Pháp Bất Cộng
Các công đức như thế
Con đây đều đã mất

Khi một mình kinh hành
Thấy Phật giữa đại chúng
Danh vang khắp mười phương
Rộng lợi ích chúng sanh
Tự thấy mất lợi đó
Và tự lừa dối mình

Con suốt ngày lẫn đêm
Luôn tư duy việc này
Muốn thưa hỏi Thế Tôn
‘Đã mất hay vẫn còn’

Con luôn thấy Thế Tôn
Ngợi khen chư Bồ-tát
Cho nên suốt ngày đêm
Suy ngẫm việc như thế

Nay nghe Phật âm thanh
Tùy nghi mà thuyết Pháp
Vô lậu chẳng nghĩ bàn
Dẫn họ đến Đạo Tràng

Con xưa chấp tà kiến
Làm thầy của Phạm Chí
Thế Tôn biết tâm con
Phá tà giảng tịch diệt

Con trừ sạch tà kiến
Chứng đắc nơi không pháp
Thế rồi lòng tự mãn
Rằng đã đến diệt độ

Nhưng nay mới tỉnh ngộ
Đó chẳng thật diệt độ
Đến khi nào thành Phật
Đầy đủ ba hai tướng
Trời người quỷ tiệp tật
Long thần đều cung kính
Lúc đó mới nói rằng:
‘Diệt sạch không thừa sót’

Phật ở giữa đại chúng
Nói con sẽ thành Phật
Nghe Pháp âm như thế
Diệt trừ mọi hoài nghi

Khi mới nghe Phật nói
Trong lòng thật kinh nghi
‘Có phải ma giả Phật
Đến não loạn tâm ta?’

Phật dùng mọi nhân duyên
Thí dụ lời thiện xảo
Lòng họ yên như biển
Con nghe lưới nghi đoạn

Phật nói thuở quá khứ
Vô lượng Phật diệt độ
An trụ trong phương tiện
Cũng đều thuyết Pháp này

Hiện tại vị lai Phật
Số ấy vô hạn lượng
Cũng dùng các phương tiện
Diễn nói Pháp như vầy

Như hôm nay Thế Tôn
Đản sanh đến xuất gia
Đắc Đạo chuyển Pháp luân
Cũng dùng phương tiện nói

Thế Tôn giảng Chánh Đạo
Ác Giả không hề làm
Thế nên con biết chắc
Chẳng phải ma giả Phật
Bởi con sa lưới nghi
Cho là do ma làm

Nghe tiếng Phật dịu êm
Vi diệu xa thăm thẳm
Diễn sướng Pháp thanh tịnh
Lòng con vui khôn xiết
Nghi vấn đã vĩnh trừ
An trụ trong thật trí

Con quyết sẽ thành Phật
Bậc trời người cung kính
Chuyển Pháp luân vô thượng
Giáo hóa chư Bồ-tát”

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

Nay Ta ở giữa đại chúng với hàng trời người, Đạo Nhân, và Phạm Chí mà tuyên cáo rằng: vào thuở xưa, ta đã từng ở nơi của 20.000 ức Phật, vì cầu Đạo vô thượng, ta đã luôn giáo hóa ông. Trong suốt đêm dài của sanh tử, ông cũng theo ta học tập. Ta đã dùng phương tiện dẫn đạo để ông sanh vào trong Pháp của ta.

Này Thu Lộ Tử! Thuở xưa, ta đã dạy ông phát nguyện chí thành nơi Phật Đạo. Thế nhưng, giờ đây ông đã hoàn toàn quên mất mà tự cho rằng mình đã được diệt độ. Ta nay vì muốn khiến ông nhớ lại bổn nguyện đã tu hành Phật Đạo và lại cũng vì hàng Thanh Văn, nên thuyết giảng Kinh Đại Thừa này đây với tên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.

Này Thu Lộ Tử! Trải qua vô lượng vô biên kiếp chẳng thể nghĩ bàn ở vào đời vị lai, khi đã cúng dường và phụng trì Chánh Pháp của vài ngàn vạn ức Phật, ông sẽ viên mãn Đạo Bồ-tát và thành Phật, hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Quốc độ tên là Ly Cấu. Nơi ấy bằng phẳng, thanh tịnh trang nghiêm, an bình thịnh vượng, và có rất đông hàng thiên chúng. Đất làm bằng lưu ly và có tám con đường cắt ngang ở một chỗ. Những sợi dây hoàng kim được giăng trên đường lộ để phân chia các hàng cây bảy báu. Trên cây luôn có hoa với trái.

Hoa Quang Như Lai cũng sẽ dùng ba thừa để giáo hóa chúng sanh.

Này Thu Lộ Tử! Khi Đức Phật kia xuất hiện ở thế gian, mặc dù không phải là đời ác, nhưng do bổn nguyện nên Ngài sẽ dạy giáo Pháp của ba thừa. Kiếp đó tên là Đại Bảo Trang Nghiêm.

Vì sao tên là Đại Bảo Trang Nghiêm? Bởi vì trong cõi nước ấy, Bồ-tát được xem là đại bảo. Số lượng của chư Bồ-tát kia nhiều vô lượng vô biên bất khả tư nghị. Cho dù dùng toán số thí dụ thì cũng không thể lường được. Ngoại trừ sức trí tuệ của Phật, không một ai có thể biết.

Khi họ muốn đi, hoa báu sẽ nâng đỡ bàn chân. Chư Bồ-tát này không phải là những vị sơ phát tâm mà sẽ là các bậc đã từng gieo trồng căn lành từ thuở xa xưa nơi vô lượng tỷ ức chư Phật, tu tịnh hạnh, và thường được chư Phật ngợi khen. Họ luôn tu trí tuệ của Phật, đầy đủ đại thần thông, khéo biết tất cả Pháp môn, chánh trực không hư ngụy, và có chí niệm kiên cố. Có chư Bồ-tát như thế đầy khắp quốc độ kia.

Này Thu Lộ Tử! Thọ mạng của Đức Phật Hoa Quang sẽ là 12 tiểu kiếp. Đây không tính thời gian lúc ngài hãy còn là vương tử và vẫn chưa thành Phật. Thọ mạng của nhân dân trong cõi nước đó là 8 tiểu kiếp.

Sau 12 tiểu kiếp, Hoa Quang Như Lai sẽ thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho Kiên Mãn Bồ-tát.

Ngài sẽ bảo các vị Bhikṣu [bíc su] rằng:

‘Vị Kiên Mãn Bồ-tát này kế đến sẽ thành Phật, hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Cõi nước của Đức Phật đó cũng giống như đây vậy.’

Này Thu Lộ Tử! Sau khi Đức Phật Hoa Quang diệt độ, Chánh Pháp sẽ trụ thế 32 tiểu kiếp. Tượng Pháp cũng sẽ trụ thế 32 tiểu kiếp.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Vị lai Thu Lộ Tử
Thành Phật Phổ Trí Tôn
Danh hiệu là Hoa Quang
Sẽ độ vô lượng chúng

Cúng dường vô số Phật
Đầy đủ hạnh Bồ-tát
Mười Lực mọi công đức
Sẽ chứng Đạo vô thượng

Trải qua vô lượng kiếp
Kiếp tên Đại Bảo Nghiêm
Thế giới tên Ly Cấu
Thanh tịnh không vết xấu

Đất làm bằng lưu ly
Dây vàng giăng đường lộ
Cây tạp sắc bảy báu
Luôn có trái và hoa

Bồ-tát cõi nước kia
Chí niệm luôn kiên cố
Sáu Độ Sáu Thần Thông
Thảy đều đã trọn đủ
Ở chỗ vô số Phật
Khéo học Đạo Bồ-tát

Các Đại Sĩ như thế
Hoa Quang Phật giáo hóa
Khi ngài làm vương tử
Bỏ nước rời vinh hoa
Trụ ở thân cuối cùng
Xuất gia thành Phật Đạo

Hoa Quang Phật trụ thế
Thọ mười hai tiểu kiếp
Dân chúng trong nước đó
Sống lâu tám tiểu kiếp

Sau khi Phật diệt độ
Chánh Pháp sẽ trụ thế
Dài ba hai tiểu kiếp
Rộng cứu độ chúng sanh

Lúc Chánh Pháp diệt tận
Tượng Pháp ba hai kiếp
Xá-lợi phân phát khắp
Trời người rộng cúng dường

Phật sự Đức Hoa Quang
Việc đó là như vậy
Lưỡng Túc Thánh Tôn ấy
Tối thắng không ai hơn
Ngài chính là ông đây
Thế nên hãy vui mừng”

Lúc bấy giờ bốn chúng đệ tử–Bhikṣu, Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ–cùng trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, và các đại chúng, khi họ thấy ngài Thu Lộ Tử ở trước Phật được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trong lòng vui mừng khôn xiết và hân hoan vô lượng, rồi mỗi vị cởi phần trên của y phục đang khoác ở nơi thân để cúng dường Phật.

Năng Thiên Đế, các vị Phạm Thiên Vương, và vô số thiên tử cũng dùng y phục vi diệu cõi trời, hoa vi diệu âm cõi trời, hoa vi diệu âm lớn, và những phẩm vật khác để cúng dường Phật. Y phục cõi trời mà chư thiên rải lên, chúng lơ lửng giữa hư không và tự động xoay chuyển. Khi ấy ở trong hư không, cùng một lúc có một tỷ loại âm nhạc cõi trời đồng thời trỗi vang.

Họ mưa xuống các thiên hoa và nói lời như vầy:

“Thuở xưa ở vườn Nai, Đức Phật đã chuyển Pháp luân đầu tiên. Cho đến bây giờ, Ngài mới chuyển vô thượng tối đại Pháp luân.”

Lúc bấy giờ các vị thiên tử muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Thuở xưa ở vườn Nai
Chuyển Pháp luân Bốn Đế
Phân biệt giảng các pháp
Sanh diệt của năm uẩn

Nay lại chuyển tối diệu
Vô thượng đại Pháp luân
Pháp này rất thâm áo
Ít ai có thể tin

Chúng con từ xưa nay
Thường nghe Thế Tôn nói
Nhưng chưa từng nghe Pháp
Thâm diệu cao như thế

Thế Tôn thuyết Pháp này
Chúng con đều tùy hỷ
Đại trí Thu Lộ Tử
Nay được Phật thọ ký

Chúng con cũng như vậy
Tất sẽ được thành Phật
Khắp tất cả thế gian
Tối tôn không ai bằng

Phật Đạo chẳng nghĩ bàn
Phương tiện tùy nghi nói
Bao phước nghiệp chúng con
Hiện đời và quá khứ
Cùng công đức thấy Phật
Thảy hồi hướng Phật Đạo”

Lúc bấy giờ ngài Thu Lộ Tử thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Bây giờ chính con ở trước Phật được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên không còn có điều gì để hoài nghi.

Thế nhưng, tuy tâm của 1.200 vị Bhikṣu đang hiện diện nơi đây đã được tự tại, và lúc họ vẫn còn ở hàng Hữu Học, Phật luôn giáo hóa mà bảo rằng:

‘Pháp của Ta có thể thoát khỏi sanh già bệnh chết và đạt tới Cứu Cánh Tịch Diệt.’

Lẫn hàng Hữu Học và những vị Vô Học, ai nấy cũng đã xa rời cái thấy của chính mình, cái thấy của có và không, cùng những cái thấy khác, và cho rằng mình đã đắc tịch diệt. Tuy nhiên nay ở trước Thế Tôn, khi nghe những điều chưa hề nghe, họ đều rơi vào sự hoài nghi.

Lành thay, thưa Thế Tôn! Kính mong Ngài hãy nói về các nhân duyên ấy cho bốn chúng đệ tử, để khiến họ lìa khỏi hoài nghi và hối tiếc.”

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Trước kia chẳng phải Ta đã nói qua rằng, chư Phật Thế Tôn dùng mọi nhân duyên, thí dụ ngôn từ, và phương tiện để thuyết Pháp, thảy đều là vì Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải không? Tất cả lời giảng dạy đó đều là vì để giáo hóa Bồ-tát.

Tuy nhiên, Thu Lộ Tử! Bây giờ Ta sẽ lại dùng một thí dụ để làm sáng tỏ thêm về nghĩa lý này. Qua thí dụ đó, những ai có trí tuệ thì sẽ hiểu được.

Này Thu Lộ Tử! Giả sử ở quốc gia, thành thị, hay trong một thôn xóm nọ có một đại trưởng giả già yếu với tài phú vô lượng. Ông ta có rất nhiều cánh đồng, nhà cửa, và những người đầy tớ trẻ.

Nhà đó rộng lớn và chỉ có một cánh cửa, nhưng có rất nhiều dân chúng–100, 200, hay cho đến 500 người–đang trú ở trong ấy.

Đại sảnh đường đã cũ kỹ; vách tường rạn nứt. Cột trụ mục nát; cây kèo ngang xiêu vẹo và rất nguy hiểm.

Bỗng nhiên đồng một lúc có cơn hỏa hoạn khởi lên xung quanh và đốt cháy căn nhà.

Các đứa con của ông trưởng giả, hoặc 10, 20, hay đến cả 30 đứa hiện đang ở trong căn nhà đó.

Khi thấy đám lửa phừng phừng bốc cháy từ bốn phía, ông trưởng giả kinh hoàng khiếp sợ và liền nghĩ như vầy:

‘Mặc dù xuyên qua cánh cửa đang thiêu cháy này, ta có thể an toàn rời khỏi, nhưng các con thì vẫn còn ham vui chơi trong căn nhà lửa. Chúng chẳng hay chẳng biết và cũng chẳng kinh chẳng sợ. Tuy ngọn lửa lan tới thiêu cháy và hành hạ thân xác, nhưng trong lòng của chúng chẳng hề màng đến và hoàn toàn không có ý định muốn thoát ra.’

Này Thu Lộ Tử! Ông trưởng giả đó suy nghĩ như vầy:

‘Thân thể và cánh tay của mình có sức mạnh. Hay là bỏ chúng vào bao hoặc đặt chúng lên bàn, rồi đưa ra khỏi nhà.’

Ông lại suy nghĩ thêm:

‘Ngôi nhà này chỉ có một cánh cửa mà còn vừa nhỏ vừa hẹp. Các con của mình thì quá non dại và không biết điều gì. Cứ mải mê vui chơi ở nơi đó thì chúng sẽ có thể rơi xuống và bị lửa thiêu đốt. Ta phải nói cho chúng biết về việc hãi hùng này, rằng căn nhà đã cháy và phải mau ra ngoài thì mới khỏi bị lửa thiêu đốt.’

Nghĩ vậy xong, ông liền nói tường tận cho các con về điều mà mới vừa suy tư:

‘Các con ơi, hãy mau ra đi!’

Tuy người cha thương xót vô vàn và đã dùng lời dụ dỗ khéo léo, nhưng mà tất cả các con của ông thì vẫn mải mê vui chơi và chẳng chịu tin. Chúng chẳng kinh chẳng sợ và hoàn toàn không có ý định muốn thoát ra. Lại cũng chẳng biết lửa là gì, nhà là gì, hay mất đi nghĩa là sao. Mặc dù đã trông thấy cha, nhưng chúng chỉ chạy rong chơi khắp nơi.

Lúc bấy giờ ông trưởng giả liền nghĩ như vầy:

‘Nhà này đã bị lửa lớn thiêu cháy. Nếu ta và các con không kịp thời rời khỏi thì tất sẽ bị đốt. Ta nay sẽ thiết lập phương tiện để khiến các con được thoát miễn cơn hỏa hoạn này.’

Người cha biết trong lòng của mỗi đứa con ưa thích các đồ chơi trân quý hoặc những vật kỳ lạ nào, thế nên ông bảo họ rằng:

‘Những đồ chơi mà các con sẽ ưa thích, chúng rất quý hiếm và khó có được. Nếu không lấy thì về sau các con sẽ phải hối tiếc. Những vật đó như là: xe dê, xe hươu, và xe bò. Bây giờ chúng đang ở ngoài cửa và các con có thể lấy chơi. Các con hãy mau ra khỏi căn nhà lửa này đi, rồi cha sẽ tùy theo sở thích của mỗi đứa và đều sẽ ban cho các con.’

Lúc vừa nghe cha mình nói về những đồ chơi trân quý với đúng như điều ước mong của chúng, thì lòng ai nấy vui mừng rối rít. Chúng chen lấn nhau và cùng tranh đua chạy ra khỏi căn nhà lửa.

Khi ông trưởng giả thấy tất cả các con của mình đã bình yên rời khỏi, lại thấy chúng đều ngồi trên đất trống ở ngã tư đường và không còn nguy hiểm nữa, thì trong lòng thanh thản và vui mừng hớn hở.

Lúc đó tất cả các con của ông đều thưa với cha rằng:

‘Thưa cha, hồi nãy cha hứa là sẽ có các đồ chơi tốt đẹp, như là xe dê, xe hươu, và xe bò. Bây giờ xin cha hãy ban cho chúng con.’

Này Thu Lộ Tử! Lúc bấy giờ ông trưởng giả đều ban cho mỗi đứa con một cỗ xe lớn bằng nhau.

Xe ấy cao rộng và được trang trí xen kẽ với những loại châu báu. Trên xe có lan can xung quanh và ở bốn phía treo chuông. Lại nữa, ở phía trên có lọng che bao phủ và chúng cũng được trang nghiêm với những kỳ trân tạp bảo. Có những sợi dây báu quấn quanh lọng che và có các sợi dây tua bằng hoa gắn trên ấy.

Cỗ xe lót các tấm thảm dày mềm mại và an trí những gối đệm màu đỏ. Ở đầu xe có con bò trắng. Màu sắc của nó thanh khiết, thân hình đẹp đẽ, và vạm vỡ lực lưỡng. Bước chân của nó ung dung, lướt nhanh như gió, và còn có rất nhiều kẻ hầu đi theo hộ vệ.

Tại sao ông trưởng giả cho những cỗ xe này? Đó là vì ông đại trưởng giả này giàu sang vô cùng và tất cả kho tàng đều tràn ắp châu báu.

Ông nghĩ như vầy:

‘Tài vật của ta nhiều vô số kể. Ta không nên cho các con của ta loại xe nhỏ thấp kém. Những đứa trẻ thơ này đều là con ta và ta thương chúng như nhau. Thêm nữa, ta có vô lượng cỗ xe lớn bằng bảy báu như thế. Với tâm bình đẳng, ta nên cho mỗi đứa bằng nhau không khác.

Vì sao thế? Bởi tài vật của ta, dù mang cho hết cả nước thì cũng chẳng thiếu hụt, huống nữa là ta chỉ cho các đứa con của ta.’

Trong lúc đó thì mỗi đứa con của ông đều cưỡi xe lớn. Chúng được điều chưa từng có và vượt hơn sự mong mỏi ban đầu.

Này Thu Lộ Tử! Ý ông nghĩ thế nào? Ông trưởng giả đó ban cho các con những cỗ xe lớn bằng trân bảo giống nhau, có phải ông ta đã lừa dối?”

Ngài Thu Lộ Tử thưa rằng:

“Dạ không, thưa Thế Tôn! Ông trưởng giả đó chỉ muốn làm sao cho các con của ông được thoát khỏi nạn lửa và bảo toàn thân mạng của chúng. Đây không phải là lừa dối.

Vì sao thế? Bởi nếu bảo toàn thân mạng thì chúng sẽ được những đồ chơi tốt đẹp. Huống chi ông lại còn dùng phương tiện để cứu vớt họ ra khỏi căn nhà lửa kia.

Thưa Thế Tôn! Giả như ông trưởng giả đó, dù cả một cỗ xe nhỏ cũng không cho họ, thì vẫn còn không phải là lừa dối.

Vì sao thế? Bởi trước đó ông trưởng giả đã nghĩ thế này:

‘Ta sẽ dùng phương tiện để khiến các con được ra khỏi.’

Do nhân duyên này nên không phải là lừa dối. Hà huống là ông trưởng giả tự biết mình giàu sang vô cùng, ông vì muốn làm lợi ích đến các con nên đều đồng ban cho chúng những cỗ xe lớn.”

Phật bảo ngài Thu Lộ Tử:

“Lành thay, lành thay! Đúng như lời ông nói.

Này Thu Lộ Tử! Như Lai cũng lại như vậy, là cha của hết thảy thế gian. Đối với các sự hãi sợ, đau đớn, phiền não, ưu lo, hay hoạn nạn, Như Lai đã vĩnh viễn đoạn trừ, một chút cũng chẳng còn. Ngài thành tựu vô lượng tri kiến, Mười Lực, và Bốn Vô Sở Úy. Như Lai có sức đại uy thần, sức trí tuệ, đầy đủ phương tiện, Trí Độ, đại từ đại bi, không bao giờ mệt mỏi, luôn cầu việc lành, và làm lợi ích đến tất cả. Cho nên Ngài mới sanh ra ở trong căn nhà lửa mục nát của ba cõi, là vì để cứu độ chúng sanh ra khỏi ngọn lửa của sanh già bệnh chết, ưu sầu khổ não, ngu si mê muội, và ba thứ độc. Như Lai giáo hóa và khiến họ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Như Lai thấy các chúng sanh bị thiêu đốt bởi sanh già bệnh chết và ưu sầu khổ não. Do bởi năm dục, tài vật, và lợi dưỡng mà họ phải chịu đủ mọi thống khổ. Lại nữa, do vì tham trước và truy cầu nên hiện đời phải thọ lấy muôn vàn khốn khổ. Đời sau sẽ thọ khổ nơi địa ngục, trong loài bàng sanh hay ngạ quỷ. Nếu sanh lên trời hay ở chốn nhân gian, họ sẽ chịu bần cùng khốn khổ, nỗi khổ của yêu thương chia lìa, nỗi khổ của oán ghét gặp nhau, và đủ mọi các loại khổ như thế. Mặc dù vậy, chúng sanh chìm đắm trong đó, vui vẻ rong chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ. Họ cũng không nhàm chán và không cầu giải thoát. Ở trong căn nhà lửa của ba cõi, họ chạy đông rảo tây. Tuy gặp lắm khổ ách nhưng họ vẫn không màng đến.

Này Thu Lộ Tử! Khi đã thấy việc đó rồi, Phật liền nghĩ như vầy:

‘Ta là cha của chúng sanh. Ta nên bạt trừ các khổ nạn đó và ban cho vô lượng vô biên trí tuệ an lạc của Phật để họ vui chơi.’

Này Thu Lộ Tử! Như Lai lại nghĩ như vầy:

‘Nếu Ta vì các chúng sanh mà chỉ dùng sức uy thần cùng sức trí tuệ nhưng bỏ đi phương tiện, rồi tán thán tri kiến của Như Lai, Mười Lực, và Bốn Vô Sở Úy thì chúng sanh sẽ không thể nào được độ thoát bởi cách này.

Vì sao thế? Bởi những chúng sanh này chưa thoát khỏi sanh già bệnh chết và ưu sầu khổ não, nên phải bị thiêu đốt trong căn nhà lửa của ba cõi. Vậy thì làm sao mà họ có thể thông hiểu trí tuệ của Phật?’

Này Thu Lộ Tử! Đây ví như ông trưởng giả kia. Mặc dù thân thể và cánh tay có sức mạnh nhưng ông đã không sử dụng. Ông chỉ ân cần dùng phương tiện để cứu các con thoát khỏi hoạn nạn trong căn nhà lửa. Sau đó ông cho mỗi đứa một cỗ xe lớn bằng trân bảo.

Như Lai cũng lại như vậy. Tuy có Mười Lực và Bốn Vô Sở Úy, nhưng Ngài đã không sử dụng. Như Lai chỉ dùng trí tuệ và phương tiện để cứu vớt chúng sanh ra khỏi căn nhà lửa của ba cõi. Ngài thuyết giảng ba thừa, gồm có: Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa, và Phật Thừa.

Như Lai bảo họ rằng:

‘Các ông chớ có ưa thích sống trong căn nhà của ba cõi. Cũng đừng tham sự thô kệch của sắc thanh hương vị xúc pháp. Nếu tham trước thì sẽ phát sanh yêu thích, tức sẽ bị chúng thiêu đốt. Các ông hãy mau ra khỏi ba cõi thì sẽ được ba thừa: Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa, và Phật Thừa.’

Ta nay bảo đảm việc này với các ông là tuyệt đối không có hư dối. Các ông chỉ cần tinh tấn tu hành. Như Lai đang dùng phương tiện này để khuyến dụ và sách tấn chúng sanh.

Ngài lại bảo rằng:

‘Các ông nên biết đây là Pháp của ba thừa mà chư thánh đều ngợi khen. Chúng sẽ khiến các ông tự tại, không bị ràng buộc, và không có nơi để mong cầu hay để nương tựa. Cưỡi trên ba thừa này thì sẽ có các căn vô lậu, lực, giác, Đạo, thiền định, giải thoát, và chánh định. Các ông sẽ hân hoan và liền được vô lượng an ổn vui vẻ.’

Này Thu Lộ Tử! Nếu có chúng sanh nào với căn tánh trí tuệ và khi nghe Pháp từ Đức Phật Thế Tôn mà tín thọ, chuyên cần tinh tấn, muốn mau ra khỏi ba cõi, và cầu đắc tịch diệt cho bản thân–đây gọi là Thanh Văn Thừa. Họ ví như các đứa con vì mong cầu xe dê mà rời khỏi căn nhà lửa.

Nếu có chúng sanh nào khi nghe Pháp từ Đức Phật Thế Tôn mà chuyên cần tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, thích một mình nơi tĩnh mịch, và biết thâm sâu các pháp nhân duyên–đây gọi là Độc Giác Thừa. Họ ví như các đứa con vì mong cầu xe hươu mà rời khỏi căn nhà lửa.

Nếu có chúng sanh nào khi nghe Pháp từ Đức Phật Thế Tôn mà tín thọ, tinh tấn tu hành, cầu Nhất Thiết Trí, trí tuệ của Phật, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ vô sư, tri kiến của Như Lai, Mười Lực, Bốn Vô Sở Úy, từ mẫn ban an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời người, và độ thoát tất cả–đây gọi là Đại Thừa. Do bởi họ cầu thừa này nên gọi là đại Bồ-tát. Họ ví như các đứa con vì mong cầu xe bò mà rời khỏi căn nhà lửa.

Này Thu Lộ Tử! Đây ví như khi ông trưởng giả kia thấy tất cả các con của mình đã an toàn rời khỏi căn nhà lửa và đến được nơi thảnh thơi, ông xem xét tài phú vô lượng của mình và ban các cỗ xe lớn cho các con.

Như Lai cũng lại như vậy, là cha của hết thảy chúng sanh. Nếu thấy vô lượng ngàn ức chúng sanh đáng được dùng cánh cửa của Phật để giáo hóa, khiến họ xa rời điều sợ hãi và hiểm đạo của sự thống khổ trong ba cõi và được an lạc của tịch diệt.

Ngay lúc đó Như Lai sẽ nghĩ như vầy:

‘Ta có vô lượng vô biên trí tuệ, Mười Lực, Bốn Vô Sở Úy, và chư Phật Pháp tạng. Hết thảy những chúng sanh này đều là con Ta. Ta phải nên cho chúng đồng một cỗ xe lớn và đừng khiến có ai được diệt độ một mình. Ta sẽ dùng tịch diệt của Như Lai để chỉ họ diệt độ. Khi thoát khỏi ba cõi, những chúng sanh này đều sẽ được ban cho các đồ vật vui chơi, như là thiền định và các môn giải thoát của chư Phật. Tất cả thảy đều một tướng và một loại mà chư thánh ngợi khen là có thể sanh ra niềm an lạc, thanh tịnh, và vi diệu đệ nhất.’

Này Thu Lộ Tử! Đây ví như ông trưởng giả kia. Ban đầu ông đã dùng ba loại cỗ xe để dẫn dụ các con, rồi sau đó ông chỉ đưa cho chúng một loại cỗ xe lớn. Loại cỗ xe này có vật báu trang nghiêm, thật an lạc và bình yên vô cùng. Cho nên ông trưởng giả kia không có phạm lỗi lừa dối. Như Lai cũng lại như vậy: không có lừa dối. Lúc ban sơ thuyết giảng ba thừa để dẫn đạo chúng sanh, rồi sau đó Ta chỉ dùng Đại Thừa mà độ thoát họ.

Vì sao thế? Bởi Như Lai có Mười Lực, Bốn Vô Sở Úy, vô lượng trí tuệ, cùng bí tạng của các Pháp, và có thể ban cho hết thảy chúng sanh Pháp Đại Thừa. Tuy nhiên, không phải chúng sanh nào cũng có thể tiếp thọ.

Này Thu Lộ Tử! Ông phải biết rằng, chư Phật vì nhân duyên này nên ở trong một Phật thừa mà phân biệt nói có ba.”

Khi ấy Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ví như ông trưởng giả
Có một căn nhà lớn
Nhà ấy đã cũ kỹ
Mà còn sắp sửa sụp

Đại sảnh cao nguy hiểm
Cột trụ nhà mục nát
Cây kèo ngang xiêu vẹo
Móng nền bị hư hoại

Vách tường thì rạn nứt
Mảnh vôi rụng rơi rớt
Mái tranh lật nghiêng ngả
Cây xà ngang lỏng leo

Vật cách ngăn cong queo
Đồ dơ bẩn đầy rẫy
Hiện có năm trăm người
Đang trú ở trong đó

Cú diều hâu kên kên
Quạ tu hú bồ câu
Rắn độc cùng bọ cạp
Loài rết với muỗi nhặng

Tắc kè vật nhiều chân
Nào chồn cáo chuột nhắt
Loài sâu bọ ác độc
Chạy rong ruổi qua lại

Chỗ phân hôi nước tiểu
Bất tịnh chảy lai láng
Bọ hung các loài trùng
Tụ tập bò trên ấy

Chó sói cáo dã can
Gặm nhấm nuốt giẫm đạp
Cắn xé mấy xác chết
Thịt xương nằm ngổn ngang

Rồi thì tới bầy chó
Vồ chụp chạy đến tranh
Gầy đói thật hung hăng
Tìm thức ăn khắp nơi
Tranh giành cấu xé nhau
Gầm hú sủa inh ỏi

Hãi hùng trong nhà ấy
Việc xảy ra như thế
Khắp mọi nơi mọi chốn
Có sơn tinh yêu quái
Quỷ dữ, quỷ tiệp tật
Đang ăn nhai thịt người

Loài sâu bọ ác độc
Bầy cầm thú dữ tợn
Nở trứng sản sanh con
Chúng tự bảo vệ lấy

Quỷ tiệp tật rượt đến
Tranh nhau bắt lấy ăn
Khi đã ăn no nê
Ác tâm càng mạnh mẽ
Tiếng tranh cãi của chúng
Thật đáng sợ hãi hùng

Các loài quỷ úng hình
Ngồi chồm hổm trên đồi
Có lúc rời khỏi đồi
Nhảy một thước hoặc hai
Chúng rảo tới rảo lui
Tha hồ mà vui thích
Bắt chó tóm hai chân
Đập đến hết la ó
Bẻ chân cuộn quanh cổ
Chó sợ còn chúng vui

Lại có các loài quỷ
Thân nó rất to lớn
Trần truồng gầy đen thui
Luôn sống ở trong đó
Phát ra tiếng dữ tợn
Gào thét tìm thức ăn

Lại có các loài quỷ
Cổ chúng nhỏ như kim
Lại có các loài quỷ
Đầu chúng như đầu bò
Có con ăn thịt người
Hoặc lại xé ăn chó

Đầu tóc rối bù xù
Hung tàn thật hiểm ác
Bị đói khát giày vò
La ó chạy long nhong

Quỷ đói quỷ tiệp tật
Các chim thú dữ tợn
Đói quá hướng khắp nơi
Ngóng nhìn qua song cửa
Các hoạn nạn như thế
Kinh hoàng nhiều vô lượng

Nhà này đã mục nát
Nó thuộc của một người
Người ấy mới ra ngoài
Thời gian không bao lâu
Thì ở đằng sau nhà
Lửa bỗng nhiên bốc cháy

Bốn bên đồng một lúc
Đều bị lửa cháy phừng
Cây kèo ngang cột trụ
Chấn nứt vang tiếng nổ
Bẻ gãy rụng rơi rớt
Vách tường sập ngổn ngang

Tất cả chúng quỷ thần
La ó kêu thảm thiết
Nào kên kên diều hâu
Các loài quỷ úng hình
Chạy loạn xạ kinh hoàng
Không thể tự ra khỏi

Thú dữ loài trùng độc
Ẩn náu trong lỗ hang
Loài quỷ hút tinh khí
Cũng trú ở trong đó

Do bởi phước đức mỏng
Chúng bị lửa bức bách
Tương tàn hại lẫn nhau
Uống máu và ăn thịt

Khi bầy thú dã can
Đều đã bị chết rồi
Các loài thú hung ác
Tranh nhau đến xé ăn
Mùi hôi thối nồng nặc
Xông lên ở khắp nơi

Loài rết với muỗi nhặng
Cùng với loài rắn độc
Chúng bị lửa thiêu đốt
Tranh chạy ra khỏi hang
Các loài quỷ úng hình
Tùy ý mà bắt ăn

Lại có các ngạ quỷ
Trên đầu lửa bốc cháy
Đói khát nóng não hại
Chạy rong ruổi khổ bức

Nhà ấy là như thế
Thật đáng sợ kinh hoàng
Nào độc hại hỏa tai
Chúng nạn không chỉ một

Khi ấy ông chủ nhà
Đang đứng ở ngoài cửa
Nghe có người bảo rằng

‘Tất cả con của ngài
Hồi nãy vì vui chơi
Nên đã vào nhà đó
Trẻ thơ ngây bồng bột
Yêu thích ham vui sướng’

Ông trưởng giả nghe rồi
Kinh hoàng vào nhà lửa
Ông nghĩ cách giải cứu
Khiến chúng không bị đốt
Dẫn dụ bảo các con
Nói các việc hoạn nạn

‘Nào ác quỷ trùng độc
Hỏa tai cháy lan tràn
Khổ này đến ách kia
Liên tục không gián đoạn

Rắn độc và hổ mang
Với bầy quỷ tiệp tật
Các loài quỷ úng hình
Chồn cáo chó dã can
Diều hâu cú kên kên
Loài trùng rết nhiều chân
Bị đói khát não loạn
Thật quả đáng khiếp sợ

Nơi này lắm khổ nạn
Huống nữa có lửa lớn
Con ông bởi vô tri
Tuy nghe cha cảnh báo
Nhưng do quá yêu thích
Ham chơi không tạm rời

Bấy giờ ông trưởng giả
Lại suy nghĩ như vầy

‘Các con như thế ấy
Làm ta thêm sầu khổ
Giờ ở trong nhà đó
Không thứ gì đáng vui
Nhưng mà các con ta
Say đắm ham vui chơi
Nếu không vâng lời ta
Sẽ bị lửa làm hại’

Khi liền nghĩ như thế
Liền lập các phương tiện
Rồi bảo các con rằng

‘Cha có đủ mọi thứ
Các đồ chơi trân bảo
Xe báu đẹp lộng lẫy
Nào xe dê xe hươu
Và cỗ xe bò lớn
Giờ chúng ở ngoài cửa
Các con hãy ra đi
Cha đã vì các con
Chế tạo các xe đó
Tùy ý như sở thích
Mà có thể vui chơi’

Các con nghe nói có
Những cỗ xe như thế
Lập tức chen lấn nhau
Bôn ba vội chạy ra
Đi đến chỗ đất trống
Lìa xa mọi khổ nạn

Khi trưởng giả thấy con
Ra khỏi căn nhà lửa
Đứng ở ngã tư đường
Ông ngồi tòa sư tử
Vui mừng tự bảo rằng

‘Bây giờ ta rất vui
Tất cả các con đây
Nuôi nấng khó lắm thay
Trẻ thơ dại vô tri
Nên vào nhà nguy hiểm
Gặp nhiều loài trùng độc
Quỷ quái thật đáng sợ
Lửa phừng phừng cháy rực
Bốn phía đều bốc cháy
Nhưng mà các con đây
Tham luyến thích vui chơi
Khi ta đã giải cứu
Khiến thoát khỏi tai nạn
Cho nên giữa bao người
Bây giờ ta vui vẻ’

Lúc đó tất cả con
Biết cha đã an tọa
Đều đến chỗ của cha
Mà thưa với cha rằng

‘Xin hãy cho chúng con
Ba loại cỗ xe báu
Như trước đã hứa rằng
“Nếu các con ra khỏi
Cha sẽ cho ba xe
Tùy sở thích mong muốn”
Nay chính là lúc này
Xin hãy cho chúng con’

Ông trưởng giả rất giàu
Có rất nhiều kho tàng
Nào vàng bạc lưu ly
Xa cừ và mã não
Dùng những báu vật đó
Tạo các cỗ xe lớn
Trang trí rất trang nghiêm
Có lan can xung quanh
Ở bốn phía treo chuông
Sợi dây vàng quấn quanh
Và lưới giăng trân châu
Giăng bủa ở trên ấy

Hoa vàng chuỗi anh lạc
Lủng lẳng treo khắp nơi
Trang sức với nhiều màu
Trang trí treo xung quanh

Lụa êm bông gòn mềm
Dùng để làm gối đệm
Bao gối mịn thượng diệu
Trị giá cả ngàn ức
Trắng thanh tịnh lấp lánh
Lấy phủ ở trên chúng

Có con bò trắng lớn
Tròn trĩnh rất dũng mãnh
Thân hình nó đẹp đẽ
Được dùng kéo xe báu
Có rất nhiều kẻ hầu
Đi theo để hộ vệ
Xe vi diệu như thế
Bình đẳng cho các con

Lúc đó các đứa con
Lòng vui mừng hớn hở
Cưỡi cỗ xe báu này
Du hành ở bốn phương
Chúng rong chơi vui vẻ
Tự tại không chướng ngại

Phải biết Thu Lộ Tử
Ta cũng lại như vậy
Là chư Thánh Trung Tôn
Là cha của thế gian

Hết thảy các chúng sanh
Đều là con của Ta
Chìm đắm lạc thế gian
Và không có trí tuệ

Khắp ba cõi không an
Ví như căn nhà lửa
Lắm khổ ách đầy rẫy
Thật quả đáng sợ hãi
Luôn có hoạn nạn sầu
Của sanh già bệnh chết
Các thứ lửa như thế
Cháy hừng hực chẳng thôi

Như Lai đã lìa xa
Căn nhà lửa ba cõi
Tịch nhiên sống an nhàn
Nơi núi rừng đồng quê

Bây giờ ba cõi đó
Đều là thuộc về Ta
Chúng sanh ở trong ấy
Chính là con của Ta

Nhưng giờ ở nơi này
Có rất nhiều hoạn nạn
Duy chỉ một mình Ta
Mới có thể cứu hộ

Tuy chỉ dạy kỹ càng
Nhưng họ chẳng tín thọ
Do tham chấp quá nặng
Nơi mong muốn nhiễm ô

Dùng các phương tiện này
Ta thuyết giảng ba thừa
Khiến cho các chúng sanh
Biết nỗi khổ ba cõi

Ta khai thị diễn nói
Phật Đạo xuất thế gian
Hết thảy các con đây
Nếu tâm tánh kiên định
Sẽ đầy đủ Ba Minh
Chứng đắc Sáu Thần Thông
Có người chứng Duyên Giác
Bồ-tát không thoái chuyển

Phải biết Thu Lộ Tử
Ta vì các chúng sanh
Mà dùng thí dụ này
Để nói một Phật Thừa

Nếu các ông có thể
Tín thọ lời dạy đây
Vị lai tất cả đều
Sẽ được thành Phật Đạo

Cỗ xe này vi diệu
Thanh tịnh tối đệ nhất
Ở trong khắp thế gian
Không gì cao quý hơn

Là nơi Phật hoan hỷ
Hết thảy các chúng sanh
Đều phải nên xưng tán
Cúng dường và lễ bái

Vô lượng muôn ngàn ức
Các lực với giải thoát
Thiền định và trí tuệ
Cùng Pháp khác của Phật
Đắc ở thừa như vầy

Khiến tất cả con Ta
Ngày đêm nhiều số kiếp
Luôn du hí vui chơi
Với các vị Bồ-tát
Và Thanh Văn thánh chúng
Cưỡi lên thừa báu này
Thẳng tiến đến Đạo Tràng

Do bởi nhân duyên đó
Dù cầu khắp mười phương
Cũng không thừa nào khác
Duy trừ Phật phương tiện

Phải biết Thu Lộ Tử
Tất cả các ông đây
Đều là con của Ta
Còn Ta chính là cha

Các ông từ nhiều kiếp
Gặp lắm khổ thiêu đốt
Và Ta đều cứu vớt
Dẫn ra khỏi ba cõi

Tuy trước đó Ta nói
Các ông đã diệt độ
Nhưng chỉ đoạn sanh tử
Đó không phải thật diệt
Bây giờ hãy nên cầu
Duy nhất trí của Phật

Nếu có Bồ-tát nào
Ở giữa đại chúng này
Có thể nhất tâm nghe
Chánh Pháp của chư Phật
Dù chư Phật Thế Tôn
Mặc dù dùng phương tiện
Nhưng chúng sanh giáo hóa
Họ đều là Bồ-tát

Nếu những ai trí nhỏ
Chấp sâu nơi ái dục
Vì hạng người như thế
Ta thuyết giảng Khổ Đế
Chúng sanh tâm hoan hỷ
Được điều chưa từng có
Phật thuyết giảng Khổ Đế
Chân thật không sai khác

Nếu có chúng sanh nào
Chẳng biết gốc của khổ
Chấp sâu nơi nhân khổ
Không thể chút tạm xả
Vì hạng người như thế
Phương tiện thuyết giảng Đạo
Nhân của tất cả khổ
Tham dục là cội gốc

Nếu diệt trừ tham dục
Khổ không chỗ cậy nương
Diệt tận trừ các khổ
Gọi là Đế Thứ Ba

Vì tu tập Diệt Đế
Họ thực hành Đạo Pháp
Rời các khổ ràng buộc
Gọi là Đắc Giải Thoát

Họ đã từ điều gì
Mà có được giải thoát?
Chỉ rời xa hư vọng
Nên gọi là giải thoát
Kỳ thật còn chưa đắc
Pháp giải thoát tất cả
Phật nói những người ấy
Chưa phải thật diệt độ
Ta không có ý muốn
Dẫn họ đến diệt độ
Bởi vì họ vẫn chưa
Chứng đắc Đạo vô thượng

Ta làm bậc Pháp Vương
Tự tại trong mọi pháp
An ổn các chúng sanh
Nên mới hiện ở đời

Phải biết Thu Lộ Tử
Pháp ấn này của Ta
Nói ra là vì muốn
Lợi ích cho thế gian
Du hành bất cứ đâu
Chớ hư vọng truyền dạy

Nếu như có ai nghe
Tùy hỷ và đảnh thọ
Ông phải biết người ấy
Là bậc không thoái chuyển

Nếu có ai tín thọ
Giáo Pháp trong Kinh này
Thì người ấy đã từng
Thấy chư Phật quá khứ
Cung kính với cúng dường
Và cũng nghe Pháp này

Nếu ai như có thể
Tín thọ lời ông nói
Họ tất sẽ thấy Ta
Cũng như thấy ông đây
Cùng các vị Bhikṣu
Và với chư Bồ-tát

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Giảng cho người trí sâu
Kẻ nông cạn khi nghe
Mê muội không tín giải

Tất cả hàng Thanh Văn
Cùng với các Độc Giác
Nghĩa lý trong Kinh này
Sức họ không thể thọ

Phải biết Thu Lộ Tử
Ông đối với Kinh này
Do tín mới vào được
Huống nữa Thanh Văn khác
Hàng Thanh Văn khác đó
Do tín thọ lời Phật
Nên tùy thuận Kinh này
Nhưng trí họ không thấu

Lại nữa Thu Lộ Tử
Kẻ kiêu mạn biếng lười
Tính toán thấy có ngã
Thì chớ giảng Kinh này

Phàm phu trí nông cạn
Bám sâu nơi năm dục
Nghe nhưng không thể hiểu
Thì cũng đừng thuyết giảng

Nếu ai không tín tâm
Và hủy báng Kinh này
Tức sẽ đoạn tất cả
Thế gian Phật chủng tánh

Hoặc lại buồn rười rượi
Họ nghi ngờ mê muội
Ông hãy nghe Ta nói
Tội báo của người này

Nếu Phật còn tại thế
Hoặc sau khi diệt độ
Nếu có ai phỉ báng
Các Kinh điển như vầy

Họ thấy người đọc tụng
Thọ trì biên chép Kinh
Mà khinh khi ganh ghét
Rồi ôm lòng thù hận

Tội báo của kẻ đó
Ông nay nghe lần nữa
Khi người ấy mạng chung
Vào Địa ngục Vô Gián
Suốt cả đến một kiếp

Kiếp hết lại sanh tiếp
Họ triển chuyển như thế
Cho đến vô số kiếp
Khi ra khỏi địa ngục
Sẽ đọa làm bàng sanh
Như là chó dã can
Thân hình chúng gầy mòn
Đen xạm hủi ghẻ lở
Bị người xua đánh đuổi

Lại khi được làm người
Thân hạ tiện xấu ác
Luôn khốn khổ đói khát
Gầy héo da bọc xương

Sống đau đớn trúng độc
Chết bị ngói đá vùi
Bởi đoạn Phật chủng tánh
Phải chịu tội báo này

Nếu đọa làm lạc đà
Hoặc sanh trong bầy lừa
Thân luôn mang đồ nặng
Gậy đập bị roi quất
Chỉ nghĩ nước và cỏ
Ngoài ra không biết gì
Do hủy báng Kinh này
Nên gặp tội như thế

Có kẻ làm dã can
Chúng đi vào xóm làng
Thân thể đầy ghẻ lở
Lại mất đi một mắt
Còn bị bọn trẻ nít
Đánh đập lấy đá ném

Chịu mọi điều thống khổ
Cho đến chết mới thôi
Ở nơi đó chết rồi
Lại làm thân mãng xà

Thân nó to và dài
Năm trăm yojana [dô cha na]
Ngu ngốc điếc không chân
Uốn éo trườn bụng đi

Bị các loài trùng nhỏ
Chích táp rỉa ăn thịt
Thọ khổ suốt ngày đêm
Không lúc nào thôi nghỉ
Do hủy báng Kinh này
Nên gặp tội như thế

Nếu được sanh làm người
Các căn lại ám độn
Lùn xấu què khập khiễng
Tai điếc mù gù lưng
Họ có nói điều chi
Thì chẳng ai tin gì

Hơi thở luôn hôi hám
Quỷ quái đột nhập thân
Bần cùng và hạ tiện
Họ bị người khác sai

Lắm bệnh gầy héo hon
Không chỗ nào tựa nương
Tuy thân cận nhờ người
Chẳng ai thèm để ý

Nếu họ được điều chi
Liền sẽ bị mất ngay
Nếu học về y thuật
Theo phương thuốc trị bệnh
Bệnh nhân càng trầm trọng
Hoặc còn hại chết luôn

Nếu họ tự mắc bệnh
Không ai cứu chữa giùm
Dù có uống lương dược
Thì chỉ thêm kịch liệt

Nếu gặp bọn giặc cướp
Họ sẽ bị cướp bóc
Người với tội như thế
Chuốc lấy tai ương đó

Những tội nhân như vậy
Vĩnh viễn chẳng thấy Phật
Bậc vua của chư thánh
Giáo hóa thuyết giảng Pháp

Những tội nhân như vậy
Luôn sanh chốn hoạn nạn
Tai điếc tâm điên cuồng
Vĩnh viễn chẳng nghe Pháp

Trải qua vô số kiếp
Nhiều như cát sông Hằng
Lúc sanh ra câm điếc
Các căn không hoàn chỉnh
Luôn sống ở địa ngục
Như dạo ở viên lâm

Hoặc tại đường ác khác
Xem như nhà của họ
Lạc đà lừa heo chó
Là nơi họ tiến đến
Do hủy báng Kinh này
Nên gặp tội như thế

Nếu được sanh làm người
Thì mù điếc câm ngọng
Nghèo mạt gia cảnh suy
Mà lấy để trang nghiêm

Phù thũng thân khô héo
Ghẻ hủi bị ung thư
Các chứng bệnh như thế
Để mà làm y phục

Thân luôn toát mùi hôi
Dơ bẩn thật bất tịnh
Chấp sâu thấy có ngã
Sân hận càng tăng trưởng

Lòng dâm dục hẫy hừng
Chẳng khác gì cầm thú
Do hủy báng Kinh này
Nên gặp tội như thế

Phải biết Thu Lộ Tử
Ai hủy báng Kinh này
Nếu Ta nói tội họ
Trọn kiếp chẳng tận cùng

Do bởi nhân duyên đó
Ta mới căn dặn ông
Chớ thuyết giảng Kinh này
Cho người không trí tuệ

Nếu ai có lợi căn
Với trí tuệ sáng suốt
Học rộng trí nhớ dai
Và chí cầu Phật Đạo
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Nếu ai đã từng thấy
Trăm ngàn ức chư Phật
Gieo trồng mọi căn lành
Tâm kiên cố thâm sâu
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Nếu có ai tinh tấn
Luôn tu tập lòng từ
Chẳng luyến tiếc thân mạng
Mới có thể thuyết giảng

Nếu có ai cung kính
Không có tâm nào khác
Xa lìa kẻ ngu dốt
Một mình nơi núi đầm
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Lại nữa Thu Lộ Tử
Nếu thấy có người nào
Rời bỏ kẻ xấu ác
Thân cận bạn bè tốt
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Nếu thấy Phật tử nào
Trì giới luật thanh tịnh
Thanh tịnh như minh châu
Chí cầu Kinh Đại Thừa
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Nếu ai không sân hận
Chánh trực tâm nhu hòa
Luôn thương xót hết thảy
Và cung kính chư Phật
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Lại có Phật tử nào
Ở giữa các đại chúng
Mà với tâm thanh tịnh
Dùng đủ mọi nhân duyên
Thí dụ và ngôn từ
Thuyết Pháp không chướng ngại
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Nếu có Bhikṣu nào
Vì cầu Nhất Thiết Trí
Đi bốn phương cầu Pháp
Chắp tay và đảnh thọ
Chỉ yêu thích thọ trì
Các Kinh điển Đại Thừa
Cho đến chẳng thọ trì
Một bài kệ Kinh khác
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Nếu ai tâm chí thành
Khẩn cầu Phật xá-lợi
Hoặc cầu Kinh như vầy
Khi được đội trên đầu
Người này sẽ chẳng còn
Mong muốn Kinh điển khác
Cũng chẳng bao giờ nghĩ
Sách điển của ngoại đạo
Thì những người như thế
Mới có thể thuyết giảng

Phải biết Thu Lộ Tử
Ta nói đặc tướng này
Của người cầu Phật Đạo
Suốt kiếp cũng chẳng hết
Những hạng người như thế
Mới có thể tín giải
Thì ông hãy thuyết giảng
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”

♦ PHẨM 4: TÍN GIẢI

Lúc bấy giờ, khi Tôn giả Đại Ẩm Quang, Tôn giả Thiện Hiện, Tôn giả Đại Tiễn Thế Chủng Nam, và Tôn giả Đại Thải Thục Thị nghe được Pháp chưa từng có từ Đức Phật. Lại nghe được Thế Tôn thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho Tôn giả Thu Lộ Tử, các ngài cảm thấy rất hy hữu và trong lòng vui mừng hớn hở.

Họ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, vén áo lộ hở vai, gối phải quỳ sát đất, nhất tâm chắp tay, rồi cung kính cúi mình, chiêm ngưỡng tôn nhan, và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Ở trong hàng xuất gia, chúng con là những thượng thủ và có tuổi thọ cao thâm. Chúng con tự nghĩ rằng mình đã đắc tịch diệt và chẳng còn việc gì phải lo, nên lại không tiến cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Thuở xưa khi Thế Tôn thuyết Pháp, tuy lúc đó chúng con cũng ngồi nghe nhưng thân thể mệt mỏi; chỉ niệm không, vô tướng, và vô nguyện. Đối với các Pháp của Bồ-tát, như là thần thông du hí, thanh tịnh Phật độ, và thành tựu chúng sanh thì lòng chẳng mấy vui thích.

Vì sao thế? Bởi Thế Tôn đã dẫn chúng con ra khỏi ba cõi để chứng đắc tịch diệt. Thêm nữa, giờ tuổi tác chúng con đã cao, nên khi nghe Phật giáo hóa Bồ-tát về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì tâm chúng con chẳng hề sanh một niệm yêu mến.

Nay ở trước Phật, khi chúng con nghe Như Lai thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho hàng Thanh Văn, thì lòng vô cùng hoan hỷ và được điều chưa từng có. Chúng con chẳng thể nào tin rằng, nay lại bỗng hốt nhiên nghe được Pháp hy hữu này. Cõi lòng mừng rỡ khôn xiết và đạt được lợi ích lành. Đây ví như tự nhiên có vô lượng trân bảo mà chẳng cần phải mong cầu.

Thưa Thế Tôn! Bây giờ chúng con muốn nói một thí dụ để làm rõ nghĩa lý này.

Đây ví như có người lúc còn thơ ấu đã bỏ cha chạy trốn và lưu lạc rất lâu ở tha phương, hoặc 10, 20, hay cho đến 50 năm. Khi đã trưởng thành, cuộc sống càng thêm khốn đốn và phải long đong khắp nơi để tìm miếng cơm manh áo. Lần lần người ấy lang thang về cố hương.

Lúc trước cha của anh ta đã ra đi để tìm con, nhưng vẫn không sao gặp được. Thế rồi người cha đã dừng chân ở một thành nọ. Người cha rất giàu sang và trong nhà có vô lượng tài bảo, nào là vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, pha lê, trân châu, và những châu báu khác. Các kho chứa đều tràn ắp đồ vật. Lại có nhiều đầy tớ, quản gia, và người giúp việc, cùng voi ngựa xe cộ và vô số bò dê. Việc kinh doanh mang đến nhiều lợi nhuận và còn phát triển sang đến nước khác. Những thương gia và khách hàng cũng có rất nhiều.

Khi ấy cùng tử đi lang thang qua các xóm làng và thành ấp của các nước. Cuối cùng thì đi đến thành quách nơi cha anh đang ở.

Mặc dù phụ tử đã biệt ly hơn 50 năm, nhưng người cha luôn nhớ về con mình. Đối với việc này, ông chưa từng nói cho ai biết và chỉ ấp ủ một mình với lòng tràn đầy hối hận.

[Ông thầm nghĩ:]

‘Ta giờ đã già nua. Tuy có nhiều tài sản, vàng bạc trân bảo, và các kho chứa tràn ắp đồ vật, nhưng tiếc thay ta lại không có con. Một mai chết đi thì tài sản sẽ tiêu tan và chẳng ai thừa kế.’

Đây là tại sao mà người cha luôn tha thiết nhớ về con mình.

Người cha lại nghĩ như vầy:

‘Nếu gặp được đứa con, ta sẽ ủy phó tài vật cho nó. Như thế ta sẽ vui vẻ và không còn ưu lo gì nữa.’

Thưa Thế Tôn! Lúc bấy giờ cùng tử đi làm mướn hết chỗ này đến chỗ khác và bất chợt đến nhà của người cha. Đứng ở cổng, hắn từ xa trông thấy người cha ngồi chễm chệ trên giường sư tử và chân gác lên ghế báu. Các Phạm Chí, vua chúa, và cư sĩ đều cung kính vây quanh. Có xâu chuỗi anh lạc trân châu với trị giá bằng cả ngàn lượng vàng được trang nghiêm trên thân. Kẻ hầu người hạ cầm cây phất trần màu trắng và đứng hầu ở hai bên. Ở phía trên có màn báu phủ trùm và trên ấy treo hoa cùng cờ xí. Trên đất rưới nước hương và rải các thứ hoa quý hiếm. Báu vật được sắp thành hàng để ông kiểm duyệt. Với đủ mọi thứ trang nghiêm như thế, uy đức của người cha rất thù đặc và tôn quý. Khi thấy người cha có uy thế lớn, cùng tử liền kinh hãi và hối hận đã đến nơi đây.

Hắn thầm nghĩ:

‘Đây chẳng lẽ là vua, hoặc là người ngang bằng với vua. Chỗ này không phải là nơi mà ta có thể làm mướn. Ta tốt hơn nên đi đến xóm nghèo. Ở đó sẽ có nơi mướn ta và dễ dàng kiếm sống. Nếu còn nán lại đây nữa thì ta sẽ có thể bị cưỡng bức đi làm khổ dịch.’

Nghĩ như thế xong, hắn vội chạy đi. Khi ông trưởng giả giàu sang đang ngồi ở trên tòa sư tử đã thấy cùng tử, ông liền nhận ra đó là con mình.

Lòng ông vui mừng vô cùng và liền suy nghĩ rằng:

‘Bây giờ thì tài vật và kho tàng của ta đã có người giao phó. Ta luôn nhung nhớ đứa con này nhưng vẫn không sao thấy được. Bất chợt giờ nó tự đến, điều mong ước của ta sắp được mãn nguyện. Mặc dù ta đã già suy nhưng ta vẫn nhớ mong.’

Nghĩ vậy xong, người cha liền sai hạ nhân cấp tốc đuổi theo để dẫn hắn về. Khi ấy, các hạ nhân liền chạy nhanh đến bắt cùng tử.

Cùng tử hốt hoảng và kêu la thảm thiết:

‘Tôi có phạm tội gì đâu mà sao lại bắt tôi?’

Các hạ nhân lại càng cầm chặt hơn và lôi kéo hắn về.

Lúc đó cùng tử nghĩ rằng:

‘Ta vốn vô tội mà giờ bị bắt giam, chắc ta phải chết mất.’

Khi ấy, cùng tử càng thêm kinh hoàng và té xỉu trên đất.

Người cha từ xa thấy thế nên ra lệnh các hạ nhân rằng:

‘Ta không cần người này nữa. Thôi đừng cưỡng bắt hắn tới đây. Hãy tạt nước lạnh lên mặt để khiến hắn tỉnh dậy và chớ nói thêm với hắn điều gì.’

Vì sao thế? Bởi người cha biết ý chí hạ liệt của con ông và biết rằng sự hào quý của chính mình sẽ làm cho con ông khó mà tin được. Khi đã biết chắc đó là con mình, ông dùng phương tiện và chẳng nói cho một ai biết rằng đó là con của ông.

Khi ấy, các hạ nhân nói với cùng tử rằng:

‘Giờ ta phóng thích ngươi. Ngươi muốn đi đâu thì tùy ý.’

Cùng tử vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có. Hắn từ dưới đất đứng dậy, rồi đi đến xóm nghèo để tìm miếng cơm manh áo.

Lúc bấy giờ ông trưởng giả vì muốn dẫn dụ con mình nên liền lập phương tiện. Ông bí mật sai hai người với dáng vẻ tiều tụy và chẳng có uy đức gì.

[Ông nói với họ rằng:]

‘Các người hãy đi đến chỗ của kẻ bần cùng kia, rồi từ tốn bảo hắn rằng:

“Có nơi này làm việc và sẽ kiếm được gấp hai lần tiền công mà anh đang làm.”

Nếu kẻ bần cùng đó đồng ý, các người hãy dẫn về làm việc.

Nếu hỏi sẽ làm công việc gì thì bảo rằng:

“Anh được mướn về đổ phân. Hai chúng tôi cũng sẽ cùng với anh làm việc.”‘

Lúc ấy, hai hạ nhân liền đi tìm cùng tử. Khi đã gặp, họ tường trình sự việc như trên.’

Lúc bấy giờ cùng tử nhận trước tiền công rồi cùng họ đổ phân. Khi người cha thấy con mình, lòng thương cảm thắm thiết.

Lại một ngày khác, nhìn qua khung cửa sổ, ông trưởng giả từ xa thấy con mình gầy gò héo hon, phân ô uế và bụi bặm bất tịnh dính trên thân. Thấy vậy, ông liền cởi xuống xâu chuỗi anh lạc, y phục mềm mại, và đồ trang sức. Rồi thay vào áo vải thô, rách rưới, và dơ bẩn. Lại trét bùn đất lên thân và tay phải cầm cái xẻng xúc phân.

Với dáng vẻ ghê rợn, ông bảo các người làm rằng:

‘Các người hãy siêng làm việc và chớ có lười biếng.’

Nhờ bằng vào cách này, người cha đã gần gũi được với đứa con.

Về sau trong một dịp nọ, ông nói với cùng tử rằng:

‘Chàng thanh niên! Cậu hãy làm việc luôn ở đây và đừng đi nơi khác nữa. Tôi sẽ tăng lương cho cậu. Mọi thứ cậu cần, như là: xoong nồi, gạo, bột, muối, giấm, hay những vật dụng khác. Cậu chớ lo nghĩ thêm về việc này mà làm khổ chính mình. Tôi cũng có một người đầy tớ già xấu, nếu cậu cần tôi sẽ cấp cho. Cậu hãy an lòng đi. Giờ tôi như người cha của cậu. Vậy cậu đừng lo lắng thêm gì nữa.

Vì sao thế? Bởi tôi đã rất già mà cậu thì trẻ trung tráng kiện. Ở mọi lúc làm việc, cậu chưa hề khi nào lừa dối, lười biếng, giận dữ, hay có lời than oán. Tôi chưa từng khi nào thấy cậu phạm các việc ác như mấy kẻ khác. Từ nay về sau, tôi sẽ xem cậu như là con của tôi.’

Rồi thì ông trưởng giả liền đặt tên và gọi cùng tử là con của mình. Dù khi ấy cùng tử vui mừng khôn xiết đối với việc này, nhưng vẫn tự cho mình như kẻ làm hạ tiện ở ngoài. Cho nên suốt 20 năm, hắn vẫn luôn đi đổ phân. Sau thời gian đó, hắn đã bắt đầu có lòng tin tưởng và khi ra vào không còn ái ngại nữa. Tuy nhiên, hắn vẫn ở chỗ cũ như lúc trước.

Thưa Thế Tôn! Lúc bấy giờ ông trưởng giả lâm bệnh và tự biết không bao lâu nữa thì sẽ chết.

Thế nên ông nói với cùng tử rằng:

‘Hiện tại cha có rất nhiều vàng bạc trân bảo và các kho chứa tràn ắp đồ vật. Con nên biết tường tận số lượng và khoản thu chi của chúng. Đó là điều mà cha đang ấp ủ trong lòng và hy vọng rằng con sẽ lãnh hội được ý này.

Vì sao thế? Bởi giờ giữa cha và con không có gì xa lạ. Con phải nên thận trọng hơn nữa và đừng để mất mát thứ gì.’

Lúc bấy giờ cùng tử liền vâng lời dạy bảo và quản lý tất cả tài vật, vàng bạc trân bảo, cùng các kho tàng. Tuy nhiên, hắn không hề khởi ý niệm chiếm giữ dù nhỏ như một bữa ăn. Hắn vẫn tiếp tục ở chỗ cũ và cũng chưa có thể bỏ đi tâm tưởng thấp kém.

Ít lâu sau, người cha biết tâm ý con mình đã dần dần thông thái, thành tựu đại chí, và khinh bỉ cách suy nghĩ của chính mình lúc trước. Khi sắp gần mạng chung, ông bảo con mình triệu tập thân bằng quyến thuộc, quốc vương, đại thần, vua chúa, và hàng cư sĩ.

Khi tất cả đều đã tập họp đông đủ, ông liền nói với họ rằng:

‘Tất cả các vị nên biết đây là con của tôi, do chính tôi sanh ra. Tại một thành nọ cách đây 50 năm, nó bỏ tôi mà chạy trốn, lưu lạc nơi tha phương, và chịu nhiều khốn khổ. Con tôi lúc xưa tên là, còn tên của tôi là vậy đó. Tại một thành nọ trên quê hương xưa, tôi đã bôn ba đi tìm. Bỗng ở tại xứ này, tôi đã tìm được. Đây đích thật là con tôi và tôi thật sự là cha của nó. Bây giờ, tất cả tài sản của tôi đều sẽ thuộc về con tôi. Mọi việc làm ăn trong ngoài của gia tộc, giờ đây con tôi cũng đã biết.’

Thưa Thế Tôn! Khi nghe lời nói như thế từ người cha, cùng tử liền vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.

Rồi hắn suy nghĩ rằng:

‘Lòng ta vốn không có một ý niệm mong cầu, nhưng giờ thì kho tàng này tự nhiên đến.’

Thưa Thế Tôn! Ông đại phú trưởng giả tức là Như Lai. Chúng con đều là hàng Phật tử, và Như Lai cũng luôn bảo rằng chúng con là con của Ngài.

Thưa Thế Tôn! Do bởi ba thứ khổ, nên chúng con ở trong sanh tử phải thọ các khổ não bức bách, mê muội vô tri, ưa thích và chấp trước nơi Pháp nhỏ.

Hôm nay Thế Tôn đã khiến chúng con khởi tâm tư duy để trừ sạch thứ phân hí luận của các pháp. Chúng con ở trong Phật Pháp đã chuyên cần tinh tấn và kiếm được một ngày tiền lương của tịch diệt.

Khi đã có được, tâm sanh đại hoan hỷ, trong lòng mãn nguyện mà liền tự bảo rằng:

‘Do bởi chuyên cần tinh tấn nên điều chúng ta đạt được ở trong Phật Pháp thật quả là nhiều.’

Tuy nhiên, Thế Tôn đã biết trước tâm chúng con tham chấp vào điều mong muốn thấp kém và ưa thích nơi Pháp nhỏ, nên vẫn để chúng con tự đi con đường của mình và đã không chỉ rõ rằng:

‘Các ông đều sẽ có một phần trong bảo tạng của Như Lai tri kiến.’

Thế Tôn dùng sức phương tiện để thuyết giảng trí tuệ của Như Lai. Chúng con tu học từ Đức Phật và kiếm được một ngày tiền lương của tịch diệt, rồi cho là đã được lợi ích lớn, nên ở trong Pháp Đại Thừa này không có tâm tha thiết cầu mong. Thêm nữa, nhân do chúng con biết rằng trí tuệ của Như Lai là để khai thị diễn nói cho chư Bồ-tát. Thế nên đối với Pháp này, chúng con không có lòng khát ngưỡng.

Vì sao thế? Bởi Phật biết tâm chúng con ưa thích Pháp nhỏ, nên đã dùng sức phương tiện mà tùy nghi thuyết giảng. Thế nhưng chúng con đã không biết rằng mình thật sự là con của Phật. Nay chúng con mới tỏ ngộ ra rằng, Thế Tôn không hề bỏn xẻn đối với trí tuệ của Phật.

Vì sao thế? Bởi từ xưa đến nay, chúng con đích thật là con của Phật. Thế nhưng chúng con chỉ ưa thích Pháp nhỏ. Nếu chúng con có tâm yêu mến Pháp lớn, Đức Phật tất sẽ thuyết Pháp Đại Thừa. Ở trong Kinh này duy chỉ nói Nhất Thừa. Xưa kia ở giữa chư Bồ-tát, Thế Tôn đã khiển trách những vị Thanh Văn ưa thích nơi Pháp nhỏ, nhưng thật ra Phật đang dùng Đại Thừa để giáo hóa họ.

Vì vậy chúng con mới nói rằng, lòng chúng con vốn không có một ý niệm mong cầu điều chi, nhưng giờ thì đại bảo tạng của Pháp Vương tự nhiên đến. Đây là điều mà người Phật tử nên được, giờ thì chúng con đều đã được.”

Lúc bấy giờ Tôn giả Đại Ẩm Quang muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ngày hôm nay chúng con
Nghe tiếng Phật dạy bảo
Vui mừng lòng hớn hở
Được điều chưa từng có

Phật nói hàng Thanh Văn
Sẽ được thành Phật Đạo
Có vô lượng trân bảo
Không cầu mà tự được

Ví như đứa trẻ nít
Bồng bột tánh non dại
Bỏ cha chạy trốn đi
Đến tận nơi tha phương
Lang thang qua các nước
Suốt hơn năm mươi năm

Người cha buồn lo nhớ
Bôn ba tìm khắp nơi
Đến khi đã mệt mỏi
Dừng nghỉ ở thành nọ
Rồi xây dựng nhà cửa
Có năm dục vui sướng

Nhà rộng lớn giàu sang
Nhiều vàng bạc trân bảo
Xa cừ với mã não
Trân châu ngọc lưu ly

Nào voi ngựa bò dê
Kiệu xe kẻ đón đưa
Tôi tớ người nông phu
Cùng dân chúng rất đông

Kinh doanh mang lợi nhuận
Phát triển sang nước khác
Thương gia và khách hàng
Không nơi nào chẳng có

Ngàn vạn ức dân chúng
Họ cung kính vây quanh
Lại có hàng vua chúa
Luôn nhớ thương mến mộ
Quần thần hàng quý tộc
Thảy đều đồng tôn trọng

Do các nhân duyên này
Người vãng lai rất nhiều
Sang giàu như thế ấy
Và có uy thế lớn

Nhưng ông đã già nua
Lòng nhớ con tha thiết
Ngày đêm nghĩ như vầy

‘Ta sắp phải ra đi
Con dại đã bỏ ta
Hơn năm mươi năm qua
Kho tàng các tài bảo
Phải xử lý thế nào?’

Khi ấy kẻ cùng tử
Tìm miếng cơm manh áo
Thôn này đến thôn khác
Nước này đến nước khác

Hoặc đôi lúc có ăn
Hoặc đôi lúc chẳng có
Đói khát thân gầy mòn
Mình mẩy sanh mụn nhọt

Lần lần đi lang thang
Đến thành cha anh ở
Triển chuyển để làm mướn
Cuối cùng đến nhà cha

Lúc đó ông trưởng giả
Ở bên trong cổng nhà
Có màn báu bao phủ
Ngồi trên tòa sư tử
Hàng quyến thuộc vây quanh
Kẻ hầu người hộ vệ

Hoặc có người tính đếm
Vàng bạc các vật báu
Tài sản trong với ngoài
Biên ghi vào sổ sách

Khi cùng tử thấy cha
Hào quý thật tôn nghiêm
‘Đây chẳng lẽ là vua
Hoặc ngang bằng với vua?’

Kinh sợ rồi tự trách
‘Tại sao đến nơi này?’

Lại tự suy nghĩ rằng
‘Nếu ta còn ở đây
Có thể bị cưỡng bức
Bắt đi làm khổ dịch’

Khi đã nghĩ như thế
Liền vội bỏ chạy đi
Đến xóm nghèo rong hỏi
Và muốn được làm mướn

Khi đó ông trưởng giả
Ngồi trên tòa sư tử
Từ xa thấy cùng tử
Liền nhận ra con mình

Tức khắc sai hạ nhân
Đuổi theo dẫn hắn về
Cùng tử kêu hốt hoảng
Té xỉu ngay trên đất

‘Những kẻ này bắt ta
Chắc ta sẽ phải chết
Vì miếng cơm manh áo
Sao lại đến nơi đây?’

Ông trưởng giả biết con
Ngu si ý hạ liệt
‘Sẽ không tin lời ta
Không tin mình là cha’

Liền dùng sức phương tiện
Sai các hạ nhân khác
Mù một mắt lùn xấu
Không có uy đức gì

Các người nói với hắn
‘Có nơi này làm việc
Dọn dẹp đổ phân dơ
Gấp hai tiền anh làm’

Khi cùng tử nghe xong
Vui vẻ đi theo về
Rồi đổ phân ô uế
Quét dọn các phòng xá

Nhìn qua khung cửa sổ
Ông trưởng giả thấy con
Ý hạ liệt ngu si
Ưa thích làm việc kia

Khi ấy ông trưởng giả
Mặc áo dơ thô xấu
Tay cầm xẻng xúc phân
Đi đến chỗ con ông

Nhờ phương tiện gần gũi
Ông bảo ‘hãy siêng làm
Sẽ tăng cậu tiền lương
Cho cậu dầu thoa chân
Đầy đủ đồ uống ăn
Và giường nệm êm ấm’

Ông nói cứng rắn rằng
‘Cậu phải siêng làm việc’
Lại từ tốn bảo rằng
‘Cậu như con của tôi’

Ông trưởng giả có trí
Dần dần cho ra vào
Trải qua hai mươi năm
Quản lý công việc nhà

Chỉ nơi cất vàng bạc
Trân châu và pha lê
Thu chi của mọi việc
Khiến cùng tử đều biết

Nhưng hắn vẫn ở ngoài
Sống trong căn nhà lá
Tự nghĩ mình bần cùng
‘Không vật nào của ta’

Người cha biết lòng con
Dần dần đã rộng lớn
Muốn cho con tài vật
Liền tụ họp thân tộc

Gồm có các quốc vương
Đại thần và cư sĩ
Ở giữa đại chúng ấy
Nói đây là con tôi

Bỏ tôi đi nơi khác
Trải qua năm mươi năm
Nay thấy nó tự đến
Hai mươi năm ở đây

Xưa ở một thành nọ
Tôi mất đứa con này
Bôn ba khắp nơi tìm
Cuối cùng đến nơi đây

Mọi thứ của tôi có
Nào nhà cửa hạ nhân
Thảy phó chúc cho nó
Tùy ý mà sử dụng

Cùng tử nghĩ xưa nghèo
Ý chí lại hạ liệt
Nhưng nay ở chỗ cha
Có được trân bảo quý

Cùng nhà cao cửa rộng
Và hết thảy tài vật
Lòng vui mừng khôn xiết
Được điều chưa từng có

Phật cũng lại như vậy
Biết chúng con thích nhỏ
Nên chưa hề nói rằng
‘Các ông sẽ thành Phật’

Mà chỉ bảo chúng con
Chứng đắc các vô lậu
Thành tựu nơi Nhị Thừa
Là Thanh Văn đệ tử

Phật giáo sắc chúng con
Thuyết giảng Đạo tối thượng
Những ai tu tập đó
Sẽ được thành Phật Đạo

Chúng con vâng Phật dạy
Vì chư đại Bồ-tát
Dùng những việc nhân duyên
Cùng đủ mọi thí dụ
Lời nói với ngôn từ
Để giảng Đạo vô thượng

Khi các Phật tử đó
Nghe Pháp từ chúng con
Rồi ngày đêm tư duy
Tinh cần gắng tu tập

Giữa lúc ấy chư Phật
Liền thọ ký cho họ
‘Ông vào đời vị lai
Sẽ được thành Phật Đạo’

Pháp này là bí tạng
Của tất cả chư Phật
Chỉ dành cho Bồ-tát
Diễn nói sự thật này
Không phải vì chúng con
Mà nói Chánh Pháp yếu

Như kẻ cùng tử kia
Được gần gũi cạnh cha
Tuy biết các tài vật
Lòng chẳng mong chiếm giữ

Đây cũng lại như vậy
Chúng con dù thuyết giảng
Phật Pháp bảo tạng mầu
Nhưng không chí nguyện cầu

Chúng con đắc nội diệt
Tự cho đã đủ rồi
Khi việc đó đã xong
Chẳng làm thêm việc gì

Cho dù chúng con nghe
Thanh tịnh cõi Phật độ
Giáo hóa độ chúng sanh
Nhưng đều không vui thích

Bởi vì nguyên nhân gì?
Hết thảy tất cả pháp
Thảy đều vốn không tịch
Chẳng sanh cũng chẳng diệt

Chẳng lớn cũng chẳng nhỏ
Vô lậu cũng vô vi
Khi tư duy như thế
Chẳng sanh niệm an vui

Chúng con suốt đêm dài
Đối với trí của Phật
Không tham cũng không chấp
Lại cũng không khát ngưỡng

Nhưng lại đối với Pháp
Tự cho đã cứu cánh
Chúng con suốt đêm dài
Chỉ tu tập không pháp

Chứng đắc thoát ba cõi
Lìa khổ não hoạn nạn
Trụ ở thân cuối cùng
Nơi Hữu Dư Tịch Diệt

Tu tập lời Phật dạy
Đắc Đạo thật chẳng hư
Liền cho đã chứng đắc
Đền đáp ân của Phật

Mặc dù tuy chúng con
Vì các hàng Phật tử
Thuyết giảng Pháp Bồ-tát
Để họ cầu Phật Đạo

Nhưng đối với Pháp này
Chưa bao giờ yêu mến
Do quán tâm chúng con
Đạo sư vẫn để yên
Lúc đầu chẳng khuyến khích
Nói lợi ích chân thật

Như trưởng giả giàu nọ
Biết con chí thấp hèn
Nên dùng sức phương tiện
Điều phục tâm tánh con
Sau đó mới phó thác
Hết thảy mọi tài vật

Phật cũng lại như vậy
Thị hiện việc hiếm có
Biết những ai thích nhỏ
Liền dùng sức phương tiện
Điều phục tâm ý họ
Rồi mới dạy đại trí

Ngày hôm nay chúng con
Được điều chưa từng có
Trước đó chẳng cầu mong
Mà nay tự chứng đắc
Như kẻ cùng tử kia
Được vô lượng trân bảo

Thế Tôn nay chúng con
Đắc Đạo hay đắc Quả
Ở trong Pháp vô lậu
Đắc Pháp nhãn thanh tịnh

Chúng con suốt đêm dài
Nghiêm trì Phật tịnh giới
Mãi cho đến hôm nay
Mới được quả báo này

Trong Pháp của Pháp Vương
Từ lâu tu tịnh hạnh
Bây giờ được vô lậu
Vô thượng quả báo lớn

Ngày hôm nay chúng con
Là Thanh Văn chân chánh
Dùng âm thanh Phật Đạo
Khiến tất cả nghe hay

Ngày hôm nay chúng con
Bậc Ứng Cúng Chân Nhân
Ở trong các thế gian
Giữa trời người ma Phạm
Ở khắp nơi trong ấy
Xứng tiếp thọ cúng dường

Đại ân của Thế Tôn
Dùng việc hy hữu này
Xót thương giáo hóa độ
Làm lợi ích chúng con
Suốt vô lượng ức kiếp
Ai có thể báo đáp?

Dù bố thí tay chân
Đầu đảnh lễ cung kính
Tất cả mọi cúng dường
Đều chẳng thể đáp đền

Nếu để Ngài trên đầu
Hoặc vác lên hai vai
Trải qua Hằng sa kiếp
Lòng hết mực cung kính

Lại dùng món ngon lạ
Vô lượng y phục báu
Cùng tất cả giường nệm
Và muôn loại thuốc thang

Hương đàn núi Ngưu Đầu
Cùng với các trân bảo
Mà xây chùa dựng tháp
Y báu trải làm đất

Các việc như thế ấy
Để làm việc cúng dường
Suốt cả Hằng sa kiếp
Cũng chẳng thể đáp đền

Chư Phật rất hy hữu
Có vô lượng vô biên
Có chẳng thể nghĩ bàn
Sức thần thông quảng đại

Được vô lậu vô vi
Là vua của các pháp
Khéo vì kẻ thấp kém
Nhẫn chịu làm việc này

Phàm phu chấp nơi tướng
Ngài tùy nghi thuyết giảng
Chư Phật ở các pháp
Được tự tại tột cùng

Biết rõ các chúng sanh
Mọi dục lạc điều vui
Cùng ý chí nguyện lực
Tùy khả năng lãnh thọ

Dùng vô lượng thí dụ
Để thuyết Pháp cho họ
Tùy theo mỗi chúng sanh
Thiện căn ở đời trước

Lại biết ai thành thục
Ai còn chưa thành thục
Muôn sự việc như thế
Phân biệt biết rõ ràng
Ở trong Đạo Nhất Thừa
Tùy nghi nói có ba”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 2

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 3

♦ PHẨM 5: DƯỢC THẢO DỤ

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo ngài Đại Ẩm Quang và các vị đại đệ tử:

“Lành thay, lành thay! Bhikṣu [bíc su] Đại Ẩm Quang khéo diễn nói công đức chân thật của Như Lai. Thật đúng như lời ông ấy đã nói.

Lại nữa, Như Lai có vô lượng vô biên vô số công đức. Nếu các ông ở trong vô lượng ức kiếp thì cũng chẳng thể nói hết.

Này Đại Ẩm Quang! Phải biết rằng Như Lai là vua của tất cả pháp. Bất cứ lời nói nào của Như Lai cũng đều chẳng hư dối. Ở trong tất cả pháp, Như Lai dùng trí tuệ phương tiện mà diễn nói. Lời thuyết Pháp của Như Lai thảy đều dẫn đến nơi Nhất Thiết Trí.

Như Lai quán biết chỗ trở về của hết thảy các pháp. Như Lai cũng biết mọi việc làm trong thâm tâm của tất cả chúng sanh và thông đạt vô ngại. Lại ở nơi các pháp đều thấu rõ đến tột cùng và có thể chỉ dẫn các chúng sanh đến Nhất Thiết Trí.

Này Đại Ẩm Quang! Ví như nơi núi rừng, dòng nước, khe suối, thung lũng, và đất đai trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới mọc ra cỏ cây, rừng rậm, và các dược thảo với nhiều thứ chủng loại, cùng tên gọi và màu sắc khác nhau.

Bấy giờ có một đám mây dày bao phủ và trùm khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, rồi cùng một lúc mưa thấm ướt đồng đều khắp nơi. Cỏ cây, rừng rậm, và các dược thảo với thân rễ bé nhỏ, cành lá bé nhỏ, thân rễ trung bình, cành lá trung bình, thân rễ to lớn, cành lá to lớn, và các cây lớn nhỏ, tùy theo kích cỡ–đại, trung, tiểu–của chúng mà hút lấy nước mưa.

Mặc dù nước mưa đồng từ một đám mây, nhưng tùy theo giống loại của mỗi loại mà sanh sôi nảy nở và đơm hoa kết trái. Tuy chúng cùng một chỗ đất sanh trưởng và cùng một trận mưa thấm nhuần, nhưng mỗi loài cỏ cây thảy đều khác nhau.

Này Đại Ẩm Quang! Phải biết Như Lai cũng lại như vậy. Như Lai xuất hiện ở thế gian như đám mây lớn kéo đến. Như Lai dùng âm thanh lớn vang khắp thế giới của trời, người, và phi thiên, như đám mây lớn kia trùm khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Ở giữa đại chúng, Như Lai xướng lên lời như vầy:

‘Ta là bậc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

– Những ai chưa hóa độ, Ta sẽ hóa độ.
– Những ai chưa giải thoát, Ta sẽ khiến giải thoát.
– Những ai chưa an vui, Ta sẽ khiến an vui.
– Những ai chưa đắc tịch diệt, Ta sẽ khiến đắc tịch diệt.

Đời này đời sau, Ta đều biết như thật. Ta là bậc biết tất cả, bậc thấy tất cả, bậc tri Đạo, bậc khai Đạo, và bậc thuyết Đạo. Các hàng trời, người, và phi thiên đều nên đến nơi này để nghe Pháp.’

Lúc bấy giờ có vô số ngàn vạn ức loại chúng sanh đi đến chỗ của Phật để nghe Pháp. Khi ấy Như Lai quán sát các căn tánh: lanh lợi, ngu độn, tinh tấn, và lười biếng của những chúng sanh này, rồi Ngài tùy theo khả năng lãnh thọ mà thuyết Pháp cho họ, khiến vô lượng chúng sanh đều hoan hỷ và được lợi ích lành. Sau khi nghe Pháp, hiện đời các chúng sanh này được an ổn; đời sau sẽ sanh vào nơi an lành. Do thực hành Đạo nên sẽ thọ hưởng an vui và cũng được nghe Pháp. Sau khi nghe Pháp, họ sẽ lìa mọi chướng ngại. Ở trong các pháp với tùy kheo khả năng, họ dần dần sẽ được vào Đạo.

Đây ví như đám mây lớn kia mưa ướt tất cả cỏ cây, rừng rậm, và các dược thảo. Tùy theo mỗi giống loại mà đều thấm nhuần đầy đủ và sanh sôi nảy nở. Như Lai thuyết Pháp chỉ có một tướng và một vị. Đó là tướng giải thoát, tướng lìa xa, tướng diệt, và cứu cánh đến Nhất Thiết Chủng Trí. Những chúng sanh nào nghe Pháp của Như Lai, hoặc thọ trì đọc tụng cùng như thuyết tu hành, chính họ cũng không biết về công đức đã được.

Vì sao thế? Bởi duy chỉ có Như Lai mới biết chủng tướng và thể tánh của những chúng sanh này.

– Họ nhớ niệm gì?
– Họ suy nghĩ gì?
– Họ tu hành gì?
– Họ nhớ niệm thế nào?
– Họ suy nghĩ thế nào?
– Họ tu hành thế nào?
– Họ dùng Pháp gì để nhớ niệm?
– Họ dùng Pháp gì để suy nghĩ?
– Họ dùng Pháp gì để tu hành?
– Họ dùng Pháp gì để chứng đắc?

Chúng sanh đang trụ ở địa nào của Pháp, duy chỉ có Như Lai mới thấy như thật và minh liễu vô ngại.

Như cỏ cây, rừng rậm, và các dược thảo chẳng tự biết căn tánh của chúng là thượng, trung, hay hạ. Như Lai biết Pháp chỉ có một tướng và một vị. Đó là tướng giải thoát, tướng lìa xa, tướng diệt, với tướng Cứu Cánh Tịch Diệt thường tịch và cuối cùng quay về chân không. Khi đã biết như vậy, Phật quán sát lòng mong muốn của chúng sanh. Vì bảo hộ họ, cho nên Phật không lập tức nói Nhất Thiết Chủng Trí.

Bhikṣu Đại Ẩm Quang cùng các ông rất là hiếm có, khéo biết chỗ tùy nghi thuyết Pháp của Như Lai và có thể tín thọ.

Vì sao thế? Bởi chỗ tùy nghi thuyết Pháp của Chư Phật Thế Tôn rất khó giải khó biết.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Pháp Vương trừ ba cõi
Xuất hiện ở thế gian
Tùy mong muốn chúng sanh
Rộng thuyết Pháp độ họ

Như Lai Vô Thượng Tôn
Trí tuệ sâu thăm thẳm
Từ lâu vẫn lặng yên
Pháp yếu chẳng vội nói

Nếu có người trí nghe
Liền có thể tín giải
Kẻ vô trí sanh nghi
Liền sẽ mất vĩnh viễn

Cho nên Đại Ẩm Quang
Phật tùy nghi thuyết Pháp
Dùng đủ mọi nhân duyên
Khiến họ được chánh kiến

Đại Ẩm Quang nên biết
Ví như đám mây lớn
Khởi lên ở thế gian
Bao trùm che tất cả

Mây trí tuệ thấm nhuần
Điện chớp sáng chói lòa
Tiếng sấm nổ vang rền
Khiến chúng sanh an vui

Ánh mặt trời che lấp
Mặt đất liền mát mẻ
Đám mây lượn sà thấp
Như có thể nắm lấy

Mưa rơi khắp mọi nơi
Mưa xuống ở bốn phương
Tuôn rơi vô số lượng
Đất đai đều thấm ướt

Sông núi hang cốc hiểm
Ẩn sâu mọc sanh ra
Cỏ cây và dược thảo
Các cây cối lớn nhỏ

Lúa non trăm loại hạt
Mía ngọt và cây nho
Được mưa rưới thấm nhuần
Đều tươi tốt xum xuê

Đất khô cằn thấm ướt
Dược thảo cây tốt tươi
Mây đó chỉ tuôn rơi
Một vị nước duy nhất

Cỏ cây rừng rậm rạp
Tùy phân lượng thấm nhuần
Hết thảy các cây cối
Lớn to vừa bé nhỏ
Tùy theo mỗi kích cỡ
Mà thảy mỗi sanh trưởng

Gốc rễ thân cành lá
Hoa quả màu sắc sáng
Với một trận mưa đó
Đều thấm ướt tốt tươi

Tùy thể tướng của chúng
Căn tánh lớn hay nhỏ
Thấm nhuần đều như nhau
Mà tùy mỗi tốt tươi

Phật cũng lại như vậy
Xuất hiện ở thế gian
Ví như đám mây lớn
Bao trùm che tất cả

Khi Phật đã xuất thế
Ngài vì các chúng sanh
Phân biệt và diễn nói
Thật tướng của các pháp

Bậc Đại Thánh Thế Tôn
Ở giữa hàng trời người
Trong hết thảy đại chúng
Mà nói lời như vầy

‘Ta là bậc Như Lai
Bậc phước trí vẹn toàn
Xuất hiện ở thế gian
Ví như đám mây lớn

Thấm nhuần hết tất cả
Chúng sanh nào khô héo
Khiến đều xa ách khổ
Được an ổn bình yên
Thọ vui sướng thế gian
Và tịch diệt an lạc

Chư thiên và nhân thế
Nhất tâm khéo lắng nghe
Đều nên đến nơi này
Thân cận Vô Thượng Tôn

Ta là Đức Thế Tôn
Không một ai sánh bằng
An định các chúng sanh
Nên thị hiện ở đời’

Vì đại chúng thuyết Pháp
Pháp thanh tịnh cam lộ
Pháp đó chỉ một vị
Là tịch diệt giải thoát

Ta dùng một diệu âm
Diễn nói nghĩa thú này
Luôn thường vì Đại Thừa
Mà gieo tạo nhân duyên

Ta quán sát tất cả
Rộng khắp đều bình đẳng
Chẳng có đây hay đó
Cùng với lòng thương ghét
Ta đều không tham trước
Cũng không bị chướng ngại

Luôn luôn vì tất cả
Mà bình đẳng thuyết Pháp
Một người cũng như thế
Nhiều người cũng như vậy

Ta luôn thuyết giảng Pháp
Chẳng có việc nào khác
Đến đi hoặc đứng ngồi
Không bao giờ chán mỏi
Đầy khắp ở thế gian
Như mưa thấm mọi nơi

Sang hèn thượng trung hạ
Trì giới phá hủy giới
Bậc uy nghi trọn đủ
Cùng kẻ bị khiếm khuyết
Chánh kiến với tà kiến
Lợi căn và độn căn
Rưới mưa Pháp đồng đều
Mà chưa hề mỏi mệt

Hết thảy các chúng sanh
Nghe được Pháp của Ta
Tùy theo sức lãnh thọ
Trụ ở nơi các địa

Hoặc ở cõi trời người
Làm Chuyển Luân Thánh Vương
Phạm Vương Năng Thiên Đế
Đây là dược thảo nhỏ

Người biết Pháp vô lậu
Có thể đắc tịch diệt
Phát khởi Sáu Thần Thông
Cùng chứng đắc Ba Minh

Một mình ở núi rừng
Luôn thực hành thiền định
Chứng đắc Đạo Duyên Giác
Đây là dược thảo vừa

Người cầu nơi Thế Tôn
Nói ‘mình sẽ thành Phật’
Tinh tấn tu thiền định
Đây là dược thảo lớn

Lại có các Phật tử
Chuyên tâm cầu Phật Đạo
Luôn rải tâm từ bi
Tự biết sẽ thành Phật
Chắc chắn không còn nghi
Đây gọi là cây nhỏ

Bậc an trụ thần thông
Lăn chuyển Chánh Pháp luân
Hóa độ các chúng sanh
Nhiều vô lượng tỷ ức
Chư Bồ-tát như thế
Đây gọi là cây lớn

Phật thuyết Pháp bình đẳng
Như một vị của mưa
Tùy căn tánh chúng sanh
Lãnh thọ chẳng giống nhau

Như các cỏ cây kia
Bổn tánh đều sai khác
Phật dùng thí dụ này
Để khai thị phương tiện

Với đủ mọi ngôn từ
Diễn giải nói một Pháp
Trong trí tuệ của Phật
Như một giọt giữa biển

Ta rưới xuống mưa Pháp
Đầy khắp ở thế gian
Một Pháp vị duy nhất
Tùy sức họ tu hành

Đây như rừng rậm kia
Dược thảo các cây cối
Tùy kích cỡ lớn bé
Dần dần sẽ tốt tươi

Pháp của tất cả Phật
Luôn chỉ có một vị
Khiến hết thảy thế gian
Ai cũng được viên tròn
Họ tu hành lần lần
Đều sẽ đắc Đạo Quả

Thanh Văn và Duyên Giác
Sống ở trong núi rừng
Trụ ở thân cuối cùng
Nghe Pháp chứng đắc Quả
Đây gọi là dược thảo
Tùy mỗi mà tăng trưởng

Nếu có chư Bồ-tát
Với trí tuệ kiên cố
Liễu đạt lìa ba cõi
Chí cầu Tối Thượng Thừa
Đây gọi là cây nhỏ
Tùy mỗi mà tăng trưởng

Lại có người trụ thiền
Chứng đắc sức thần thông
Nghe được các pháp không
Tâm sanh đại hoan hỷ
Phóng ra vô số quang
Hóa độ các chúng sanh
Đây gọi là cây lớn
Tùy mỗi mà tăng trưởng

Như thế Đại Ẩm Quang
Pháp của chư Phật nói
Ví như đám mây lớn
Mưa xuống chỉ một vị
Thấm nhuần người và hoa
Tùy mỗi sẽ kết trái

Đại Ẩm Quang nên biết
Ta dùng các nhân duyên
Và đủ mọi thí dụ
Mà khai thị Phật Đạo
Là phương tiện của Ta
Chư Phật cũng như vậy

Ta nay vì các ông
Nói sự thật sau cùng
Tất cả hàng Thanh Văn
Đều chưa ai diệt độ

Việc làm của các ông
Đó là Đạo Bồ-tát
Hãy tu học lần lần
Tất đều sẽ thành Phật”

♦ PHẨM 6: THỌ KÝ

Sau khi Thế Tôn đã nói bài kệ đó xong, Ngài bảo các đại chúng như vầy:

“Bhikṣu Đại Ẩm Quang, vị đệ tử này của Ta sẽ phụng sự và thân cận ba triệu ức chư Phật Thế Tôn ở vào đời vị lai, cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán, và rộng tuyên dương vô lượng đại Pháp của chư Phật.

Khi trụ ở thân cuối cùng, ông ấy sẽ thành Phật, hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Quốc độ tên là Quang Đức. Kiếp tên là Đại Trang Nghiêm. Thọ mạng của Đức Phật đó là 12 tiểu kiếp. Thời gian Chánh Pháp trụ thế là 20 tiểu kiếp. Thời gian Tượng Pháp cũng trụ thế 20 tiểu kiếp.

Cõi nước ấy trang nghiêm. Không có việc ác, đồ dơ bẩn, ngói, đá sỏi, cây gai, phân, hay những thứ bất tịnh. Quốc độ bằng phẳng, không có chỗ cao hay thấp, hầm hố hay núi đồi. Đất làm bằng lưu ly và có các hàng cây báu. Những sợi dây hoàng kim được giăng trên các con đường. Các hoa báu rải xuống và làm cho khắp nơi đều thanh tịnh. Có vô lượng ngàn ức Bồ-tát trong cõi nước đó. Số lượng của hàng Thanh Văn thánh chúng cũng nhiều vô số. Nơi ấy không có việc làm của ma. Tuy có ma và nhân dân của ma nhưng họ đều hộ trì Phật Pháp.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Như Lai dùng Phật nhãn
Quán thấy Đại Ẩm Quang
Ở vào đời vị lai
Trải qua vô số kiếp
Sẽ được thành Phật Đạo

Ở vào đời vị lai
Sẽ cúng dường phụng sự
Hầu ba trăm vạn ức
Chư Như Lai Thế Tôn

Vì cầu trí của Phật
Tịnh hạnh luôn tu hành
Cúng dường tối thượng Tôn
Bậc phước trí vẹn toàn

Rồi tu tập tất cả
Mọi trí tuệ vô thượng
Trụ ở thân cuối cùng
Sẽ được thành Phật Đạo

Cõi nước ấy thanh tịnh
Đất làm bằng lưu ly
Với nhiều hàng cây báu
Giăng trên các con đường
Treo những sợi dây vàng
Người thấy đều hoan hỷ

Hương thơm luôn xông khắp
Rải xuống những hoa quý
Và mọi vật kỳ diệu
Để dùng làm trang nghiêm

Đất nơi đó bằng phẳng
Cũng chẳng có gò hố
Chư Bồ-tát đại chúng
Không thể tính đếm kể

Tâm điều phục nhu hòa
Họ có thần thông lớn
Trì các Kinh Đại Thừa
Của chư Phật Như Lai

Hàng Thanh Văn thánh chúng
Vô lậu thân cuối cùng
Là con của Pháp Vương
Cũng nhiều không kể xiết
Cho đến dùng thiên nhãn
Chẳng thể biết số lượng

Thọ mạng Đức Phật đó
Là mười hai tiểu kiếp
Còn Chánh Pháp trụ thế
Dài hai mươi tiểu kiếp

Thời gian Tượng Pháp trụ
Cũng hai mươi tiểu kiếp
Đức Quang Minh Thế Tôn
Việc ấy là như vậy”

Lúc bấy giờ Tôn giả Thiện Hiện, Tôn giả Đại Tiễn Thế Chủng Nam, và Tôn giả Đại Thải Thục Thị thảy đều run sợ. Họ nhất tâm chắp tay, chiêm ngưỡng tôn nhan, và mắt không rời một thoáng.

Họ liền đồng thanh nói kệ rằng:

“Đại dũng mãnh Thế Tôn
Đức Năng Nhân Pháp Vương
Hãy thương xót chúng con
Mà ban Phật âm thanh

Phật biết đáy lòng con
Nếu thấy được thọ ký
Sẽ như rưới cam lộ
Trừ nhiệt được mát mẻ

Như từ nước đói tới
Bỗng gặp yến tiệc vua
Lòng hoài nghi sợ hãi
Và liền chẳng dám ăn
Nếu lại được vua cho
Sau đó mới dám ăn

Chúng con cũng như vậy
Tự nghĩ Nhị Thừa lỗi
Chẳng biết phải làm sao
Đắc Phật trí vô thượng

Tuy nghe Phật âm thanh
Nói chúng con thành Phật
Lòng ưu lo sợ hãi
Như người chẳng dám ăn
Nếu được Phật thọ ký
Thì sẽ được an vui

Đại dũng mãnh Thế Tôn
Luôn muốn an thế gian
Xin thọ ký chúng con
Như cho người đói ăn”

Lúc bấy giờ Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đại đệ tử nên bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Vào đời vị lai, Bhikṣu Thiện Hiện sẽ phụng sự và thân cận ba triệu ức nayuta [na du ta] chư Phật, cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán, luôn tu tịnh hạnh, và đầy đủ Đạo Bồ-tát. Khi trụ ở thân cuối cùng, ông ấy sẽ thành Phật, hiệu là Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Kiếp tên là Hữu Bảo. Quốc độ tên là Bảo Sanh. Cõi nước đó bằng phẳng, pha lê làm đất, và cây báu trang nghiêm. Nơi ấy không có các gò cao, hầm hố, cát sỏi, cây gai, phân hay đồ ô uế. Các hoa báu phủ trên đất và làm cho khắp nơi đều thanh tịnh. Dân chúng ở quốc độ ấy đều ở trong đài báu hoặc trong những lầu các trân quý vi diệu.

Số lượng của hàng Thanh Văn đệ tử thì nhiều vô lượng vô biên, không thể dùng toán số thí dụ mà có thể biết được. Còn số lượng của chư Bồ-tát thì nhiều vô số ngàn vạn ức nayuta.

Thọ mạng của Đức Phật đó là 12 tiểu kiếp. Thời gian Chánh Pháp trụ thế là 20 tiểu kiếp. Thời gian Tượng Pháp cũng trụ thế 20 tiểu kiếp. Đức Phật ấy luôn ở trong hư không thuyết Pháp cho đại chúng và độ thoát vô lượng Bồ-tát cùng hàng Thanh Văn.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Này các vị Bhikṣu
Ta bây giờ sẽ nói
Các ông hãy nhất tâm
Lắng nghe lời Ta dạy

Đại đệ tử của Ta
Là Thiện Hiện này đây
Vị lai sẽ thành Phật
Phật hiệu là Danh Tướng

Sẽ cúng dường vô số
Vạn ức chư Như Lai
Học theo hạnh của Phật
Dần dần đắc Đại Đạo

Trụ ở thân cuối cùng
Đầy đủ ba hai tướng
Đoan chánh đẹp vi diệu
Tựa như hòn núi báu

Cõi nước Đức Phật ấy
Trang nghiêm tịnh đệ nhất
Chúng sanh thấy nơi đó
Không ai chẳng yêu thích

Phật trong cõi nước ấy
Hóa độ vô lượng chúng
Trong giáo Pháp Phật đó
Rất đông chư Bồ-tát
Thảy đều có lợi căn
Lăn chuyển Chánh Pháp luân

Quốc độ kia luôn có
Chư Bồ-tát trang nghiêm
Hàng Thanh Văn thánh chúng
Số nhiều chẳng kể xiết

Họ đều đắc Ba Minh
Đầy đủ Sáu Thần Thông
An trụ Tám Giải Thoát
Và có đại uy đức

Khi Phật đó thuyết Pháp
Thị hiện vô số lượng
Các thần thông biến hóa
Hy hữu chẳng nghĩ bàn

Chư thiên và dân chúng
Số như cát sông Hằng
Họ đều đồng chắp tay
Lắng nghe lời Phật dạy

Thọ mạng Đức Phật đó
Là mười hai tiểu kiếp
Còn Chánh Pháp trụ thế
Dài hai mươi tiểu kiếp
Thời gian Tượng Pháp trụ
Cũng hai mươi tiểu kiếp”

Lúc bấy giờ Thế Tôn lại bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Ta bây giờ sẽ nói cho các ông biết. Vào đời vị lai, Bhikṣu Đại Tiễn Thế Chủng Nam sẽ dùng các phẩm vật cúng dường, cung kính tôn trọng, và phụng sự 8.000 ức chư Phật. Sau khi mỗi chư Phật đó đã diệt độ, ông ta đều sẽ xây một ngôi tháp với chiều cao 1.000 yojana [dô cha na], rộng 5.000 yojana, và đều do bảy báu hợp thành, như là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, và mai côi.

Sau đó ông ấy sẽ thành Phật, hiệu là Jambū [cham bu] Hà Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Cõi nước ấy bằng phẳng, pha lê làm đất, và cây báu trang nghiêm. Những sợi dây hoàng kim được giăng trên con đường. Các diệu hoa phủ trên đất và làm cho khắp nơi đều thanh tịnh. Khi người trông thấy thảy đều hoan hỷ. Quốc độ ấy không có bốn đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, và phi thiên. Cõi nước ấy trang nghiêm với rất nhiều hàng trời người và vô lượng vạn ức hàng Thanh Văn cùng chư Bồ-tát. Thọ mạng của Đức Phật đó là 12 tiểu kiếp. Thời gian Chánh Pháp trụ thế là 20 tiểu kiếp. Thời gian Tượng Pháp cũng trụ thế 20 tiểu kiếp.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Này các vị Bhikṣu
Hãy thành tâm lắng nghe
Lời của Ta sẽ nói
Chân thật chẳng sai khác

Đại Tiễn Thế Chủng Nam
Sẽ dùng đủ mọi thứ
Phẩm vật quý vi diệu
Để cúng dường chư Phật

Khi chư Phật diệt độ
Khởi xây tháp bảy báu
Cũng lại dùng hương hoa
Cúng dường Phật xá-lợi

Trụ ở thân cuối cùng
Sẽ đắc trí của Phật
Thành Chánh Đẳng Chánh Giác

Cõi nước ấy thanh tịnh
Ngài độ thoát vô lượng
Muôn ức loài hữu tình
Và là nơi cúng dường
Của chúng sanh mười phương

Ánh sáng Đức Phật đó
Không một ai sánh bằng
Phật hiệu của Ngài là
Jambū Hà Kim Quang

Chư Bồ-tát Thanh Văn
Đoạn trừ tất cả hữu
Vô lượng vô số ức
Trang nghiêm cõi nước kia”

Lúc bấy giờ Thế Tôn lại bảo đại chúng rằng:

“Ta bây giờ sẽ nói cho các ông biết: Vào đời vị lai, Bhikṣu Đại Thải Thục Thị sẽ dùng muôn loại phẩm vật để cúng dường và cung kính tôn trọng 8.000 ức chư Phật. Sau khi mỗi chư Phật đó đã diệt độ, ông ta đều sẽ xây một ngôi tháp với chiều cao 1.000 yojana, rộng 5.000 yojana, và đều do bảy báu hợp thành, như là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, và mai côi. Ông ấy sẽ dùng các loại hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng che, và tràng phan để làm cúng dường. Khi việc đó hoàn mãn, Bhikṣu Đại Thải Thục Thị sẽ lại cúng dường thêm cho hai triệu ức chư Phật cũng lại như thế.

Sau đó ông ấy sẽ thành Phật, hiệu là Hoắc Diệp Đàn Hương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Kiếp tên là Hỷ Mãn. Quốc độ tên là Ý Lạc. Cõi nước ấy bằng phẳng, pha lê làm đất, và có cây báu trang nghiêm. Các hoa trân châu rải xuống và làm cho khắp nơi đều thanh tịnh. Khi ai trông thấy thảy đều hoan hỷ. Quốc độ ấy có nhiều hàng trời người cùng chư Bồ-tát Thanh Văn. Số lượng ấy là vô lượng. Thọ mạng của Đức Phật đó là 24 tiểu kiếp. Thời gian Chánh Pháp trụ thế là 40 tiểu kiếp. Thời gian Tượng Pháp cũng trụ thế 40 tiểu kiếp.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Đệ tử này của Ta
Là Đại Thải Thục Thị
Khi đã xả thân này
Sẽ thấy được tám ngàn
Hai trăm vạn ức số
Chư Như Lai Thế Tôn

Vì chí cầu Phật Đạo
Cúng dường và cung kính
Ở Đạo Tràng chư Phật
Tịnh hạnh luôn tu hành
Trải qua vô lượng kiếp
Phụng trì Phật Pháp tạng

Khi chư Phật diệt độ
Khởi xây tháp bảy báu
Trưng bày vòng xoắn vàng
Với hương hoa âm nhạc
Mà dùng để cúng dường
Nơi tháp của chư Phật

Sau khi đã dần dần
Đầy đủ Đạo Bồ-tát
Trong cõi nước Ý Lạc
Mà được thành Phật Đạo
Danh hiệu của Ngài là
Hoắc Diệp Đàn Hương Phật

Thọ mạng Đức Phật đó
Dài hai mươi bốn kiếp
Ngài thường vì trời người
Rộng diễn nói Phật Đạo

Vô lượng bậc Thanh Văn
Số như cát sông Hằng
Ba Minh Sáu Thần Thông
Họ có đại uy đức

Vô số chư Bồ-tát
Tinh tấn tâm kiên cố
Đối với trí của Phật
Đều được không thoái chuyển

Sau khi Phật diệt độ
Chánh Pháp sẽ trụ thế
Dài bốn mươi tiểu kiếp
Tượng Pháp cũng như vậy

Các đệ tử của Ta
Với uy đức đầy đủ
Số ấy có năm trăm
Đều sẽ được thọ ký
Ở vào đời vị lai
Thảy đều sẽ thành Phật

Ta cùng với các ông
Do nhân duyên đời trước
Ta nay sẽ thuyết giảng
Các ông hãy lắng nghe”

♦ PHẨM 7: HÓA THÀNH DỤ

Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Vào thuở quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp chẳng thể nghĩ bàn, lúc bấy giờ có Đức Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Quốc độ tên là Hảo Thành. Kiếp tên là Đại Tướng.

Này các Bhikṣu! Thời gian từ khi Đức Phật kia diệt độ đến nay thì vô cùng lâu xa. Ví như có người nghiền nát tất cả đất đai của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới để làm thành mực. Rồi giả sử người ấy đi qua 1.000 cõi nước ở phương đông và sau đó nhỏ xuống một hạt mực lớn bằng như một hạt vi trần. Tiếp đến lại đi qua 1.000 cõi nước và cũng nhỏ xuống một hạt mực. Triển chuyển như thế cho đến khi nhỏ xuống hết tất cả mực được làm bằng đất đai.

Ý các ông nghĩ sao? Nhà toán học hay học trò của họ có thể nào biết được hết số lượng của các cõi nước đó không?”

“Dạ không, thưa Thế Tôn!”

“Này các Bhikṣu! Những cõi nước mà người này đã đi qua, hoặc nhỏ xuống hay không nhỏ xuống, tất cả hãy mang đi nghiền nát thành vi trần, rồi cứ tính mỗi vi trần là một kiếp. Thời gian từ khi Đức Phật kia diệt độ đến nay thì còn vượt hơn số đó cả vô lượng vô biên tỷ ức vô số kiếp. Do Ta dùng tri kiến của Như Lai nên quán được thời gian lâu xa kia như là mới đang xảy ra hôm nay.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ta nhớ đời quá khứ
Vô lượng vô biên kiếp
Có Phật Lưỡng Túc Tôn
Hiệu Đại Thông Trí Thắng

Ví như có người nghiền
Cõi Tam Thiên Đại Thiên
Hết tất cả đất đai
Thảy đều làm thành mực

Qua một ngàn cõi nước
Nhỏ xuống một hạt nhỏ
Cứ triển chuyển như thế
Cho đến hết hạt mực

Các quốc độ như thế
Chỗ nhỏ xuống chỗ không
Cũng nghiền làm vi trần
Một trần là một kiếp

Số lượng vi trần này
Kiếp đó còn vượt hơn
Từ khi Phật kia diệt
Vô lượng kiếp như thế

Như Lai trí vô ngại
Biết Phật kia diệt độ
Thanh Văn và Bồ-tát
Như thấy mới diệt độ

Các Bhikṣu nên biết
Phật trí tịnh vi diệu
Vô lậu không chướng ngại
Thông đạt vô lượng kiếp”

Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Đức Phật Đại Thông Trí Thắng có thọ mạng dài 5,4 triệu ức nayuta kiếp. Lúc xưa khi Đức Phật ấy ngồi ở Đạo Tràng, mặc dù tuy đã phá tan ma quân và gần đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nhưng Pháp của chư Phật vẫn không hiện ra ở trước ngài. Thế nên, ngài ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen suốt một tiểu kiếp và mãi đến mười tiểu kiếp với thân tâm bất động, nhưng Pháp của chư Phật vẫn không hiện ra ở trước ngài.

Lúc bấy giờ chư thiên ở trời Tam Thập Tam an trí một tòa sư sử với độ cao một yojana ở dưới cội Đạo thụ cho Đức Phật kia. Và chính ở trên tòa báu này, Đức Phật ấy sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi ngài vừa ngồi lên tòa báu này thì các vị Phạm Thiên Vương mưa xuống thiên hoa và chúng trải dài đến 100 yojana. Có làn gió hương thơm thay phiên bay đến để thổi đi hoa héo tàn và mưa xuống hoa mới. Sự cúng dường cho Phật liên tục chẳng ngớt như thế cho đến suốt mười tiểu kiếp và mãi đến khi diệt độ vẫn luôn mưa xuống các hoa trời này. Chư thiên ở trời Tứ Thiên Vương cũng luôn đánh trống trời để cúng dường Phật. Các vị thiên chúng khác thì trỗi âm nhạc trời suốt mười tiểu kiếp và mãi đến khi diệt độ cũng lại như vậy.

Này các Bhikṣu! Trải qua hơn mười tiểu kiếp thì Pháp của chư Phật mới hiện ra ở trước Đức Phật Đại Thông Trí Thắng. Sau đó ngài thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi Đức Phật ấy còn chưa xuất gia, ngài có 16 người con trai. Người con trưởng tên là Trí Tích. Mỗi người con ai nấy đều có đủ mọi vật trân bảo quý hiếm. Khi nghe cha chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, họ đều xả bỏ những thứ trân bảo đó và đi đến chỗ của Phật. Còn mẹ của họ thì khóc lóc đi theo để đưa tiễn con mình. Ông nội của họ là Chuyển Luân Thánh Vương, với 100 vị đại thần và một tỷ ức dân chúng đều đồng vây quanh và cùng theo nhà vua tới Đạo Tràng. Tất cả đều muốn thân cận Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính và tôn trọng tán thán. Lúc đến nơi, họ cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật.

Khi đã đi nhiễu Phật xong, họ nhất tâm chắp tay, rồi chiêm ngưỡng Thế Tôn và dùng kệ xướng rằng:

‘Đại uy đức Thế Tôn
Vì hóa độ chúng sanh
Trong vô lượng ức kiếp
Mới chứng đắc Phật Đạo

Các nguyện đã viên tròn
Vô thượng thật lành thay
Thế Tôn rất hy hữu
Nhất tọa mười tiểu kiếp
Thân thể với tay chân
Tĩnh nhiên an bất động

Tâm ngài luôn tĩnh lặng
Chưa hề có tán loạn
Cứu cánh mãi tịch diệt
An trụ Pháp vô lậu

Nay con thấy Thế Tôn
Yên bình thành Phật Đạo
Chúng con được lợi lành
Vui mừng đại hoan hỷ

Chúng sanh luôn khổ não
Mù lòa không đạo sư
Chẳng thấy đường dứt khổ
Chẳng biết cầu giải thoát

Đêm dài đường ác tăng
Hàng thiên chúng giảm bớt
Từ tối vào tối tăm
Vĩnh không nghe Phật danh

Nay Phật thành tối thượng
An trụ Đạo vô lậu
Chúng con cùng trời người
Sẽ được lợi ích lớn
Cho nên đều cúi đầu
Quy mạng Vô Thượng Tôn’

Khi đã dùng kệ tán thán Phật xong, 16 vị vương tử khuyến thỉnh Thế Tôn chuyển Pháp luân và đồng nói lời như vầy:

‘Mong Thế Tôn hãy thương xót hàng trời người mà thuyết Pháp để họ được bình an và thêm nhiều lợi ích.’

Sau đó, họ lại nói kệ rằng:

‘Thế Hùng không ai hơn
Trăm phước tự trang nghiêm
Đắc trí tuệ vô thượng

Nguyện vì thế gian nói
Độ thoát dạy chúng con
Cùng các hàng chúng sanh
Mà phân biệt hiển thị
Khiến được trí tuệ này
Để chúng con thành Phật
Chúng sanh cũng như vậy

Thế Tôn biết chúng sanh
Cõi lòng điều suy tư
Cũng biết nơi hành Đạo
Lại biết sức trí tuệ
Dục lạc với phước tu
Nghiệp làm của đời trước
Thế Tôn khi đã biết
Nên chuyển vô thượng luân’

Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Khi Đức Phật Đại Thông Trí Thắng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, mỗi phương trong mười phương có năm triệu ức thế giới của chư Phật đều chấn động sáu cách. Ở những nơi u ám của các quốc độ ấy, ánh sáng rực rỡ của mặt trời và mặt trăng không thể rọi đến, nhưng ngay lúc đó thì đều sáng chói và các chúng sanh trong ấy đều trông thấy lẫn nhau.

Bấy giờ họ đều nói rằng:

‘Sao trong nơi đây bỗng nhiên sanh ra nhiều chúng sanh thế?’

Lại nữa, các cõi giới ở quốc độ đó, cung điện của chư thiên, và cho đến cung điện của Phạm Thiên đều chấn động sáu cách. Ánh sáng lớn chiếu khắp, phủ trùm thế giới, và vượt hơn ánh sáng của chư thiên.

Lúc bấy giờ trong năm triệu ức cõi nước ở phương đông, ánh sáng cung điện của Phạm Thiên bỗng chiếu rực rỡ gấp hai lần so với ánh sáng của thường lệ.

Khi đó các vị trời Phạm Vương đều nghĩ như vầy:

‘Hôm nay cung điện của chúng ta sáng chói chưa từng có. Nhân duyên gì mà hiện ra điềm tướng này?’

Lúc ấy các vị trời Phạm Vương lập tức hội họp để cùng thảo luận về việc này. Khi đó ở trong chúng hội kia có một vị Đại Phạm Thiên Vương tên là Cứu Nhất Thiết.

Ngài vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

‘Các cung điện chúng ta
Sáng chói chưa từng có
Đây là nhân duyên gì?
Hãy đồng cùng nhau tìm

Là đại đức sanh thiên
Hay Phật xuất thế gian
Mà ánh sáng lớn này
Biến chiếu soi mười phương’

Lúc bấy giờ các vị trời Phạm Vương từ năm triệu ức cõi nước, họ lấy những túi vải đựng các thiên hoa, rồi mỗi vị ngồi ở cung điện của mình và đồng đi về hướng tây để tìm kiếm điềm tướng này. Sau đó họ thấy Đại Thông Trí Thắng Như Lai đang ngồi trên tòa sư tử ở dưới cội Đạo thụ nơi Đạo Tràng. Lại có chư thiên, long vương, tầm hương thần, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân đang cung kính vây quanh. Lại thấy 16 vị vương tử thỉnh Phật chuyển Pháp luân.

Sau đó, các vị trời Phạm Vương cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và đi nhiễu trăm ngàn vòng. Rồi liền dùng hoa trời mà rải lên Đức Phật. Những đóa hoa rải xuống đó tích tụ như núi Diệu Cao. Họ cũng rải hoa xuống cội Đạo thụ của Phật để cúng dường. Cội Đạo thụ ấy có độ cao là mười yojana. Khi đã dâng hoa cúng dường, mỗi vị lấy cung điện của mình và dâng lên Đức Phật kia.

Rồi họ nói lời như vầy:

‘Xin hãy thương xót chúng con mà nhận lấy cung điện để chúng con được lợi ích.’

Khi ấy các vị trời Phạm Vương liền ở trước Phật, họ nhất tâm đồng thanh và dùng kệ tán thán rằng:

‘Thế Tôn rất hiếm có
Khó mà gặp thấy được
Đủ vô lượng công đức
Khéo cứu hộ tất cả

Đại sư của trời người
Xót thương chốn thế gian
Các chúng sanh mười phương
Đều nhờ ơn cứu hộ

Chúng con đã đến từ
Năm trăm vạn ức cõi
Xả thiền định thâm vui
Vì để cúng dường Phật

Phước chúng con đời trước
Cung điện đẹp trang nghiêm
Nay dâng lên Thế Tôn
Xin hãy nhận lấy cho’

Khi các vị trời Phạm Vương đã dùng kệ tán thán Phật xong, mỗi vị đều thưa rằng:

‘Ngưỡng mong Thế Tôn hãy chuyển Pháp luân để độ thoát chúng sanh và khai mở Đạo tịch diệt.’

Tiếp đến các vị trời Phạm Vương nhất tâm đồng thanh mà nói kệ rằng:

‘Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn
Kính mong diễn nói Pháp
Dùng sức đại từ bi
Độ chúng sanh khổ não’

Lúc bấy giờ Đại Thông Trí Thắng Như Lai lặng yên hứa khả.

Lại nữa, các vị Bhikṣu! Khi các vị trời Phạm Vương của năm triệu ức cõi nước về hướng đông nam đều tự thấy cung điện của mình sáng chói hiển hách chưa từng có, họ vui sướng hớn hở và sanh tâm hy hữu, rồi liền lập tức hội họp để cùng thảo luận về việc này. Khi đó ở trong chúng hội kia có một vị Đại Phạm Thiên Vương tên là Đại Bi.

Ngài vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

‘Đây là nhân duyên gì?
Mà hiện điềm tướng này
Các cung điện chúng ta
Sáng chói chưa từng có

Là đại đức sanh thiên
Hay Phật xuất thế gian
Tướng này chưa từng thấy
Hãy đồng nhất tâm tìm

Qua ngàn vạn ức độ
Cùng tìm ánh sáng kia
Phải là Phật xuất thế
Độ thoát khổ chúng sanh’

Lúc bấy giờ các vị trời Phạm Vương từ năm triệu ức cõi nước, họ lấy những túi vải đựng các thiên hoa, rồi mỗi vị ngồi ở cung điện của mình và đồng đi về hướng tây bắc để tìm kiếm điềm tướng này. Sau đó họ thấy Đại Thông Trí Thắng Như Lai đang ngồi trên tòa sư tử ở dưới cội Đạo thụ nơi Đạo Tràng. Lại có chư thiên, long vương, tầm hương thần, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân đang cung kính vây quanh. Lại thấy 16 vị vương tử thỉnh Phật chuyển Pháp luân.

Sau đó, các vị trời Phạm Vương cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và đi nhiễu trăm ngàn vòng. Rồi liền dùng hoa trời mà rải lên Đức Phật. Những đóa hoa rải xuống đó tích tụ như núi Diệu Cao. Họ cũng rải hoa xuống cội Đạo thụ của Phật để cúng dường. Khi đã dâng hoa cúng dường, mỗi vị lấy cung điện của mình và dâng lên Đức Phật kia.

Rồi họ nói lời như vầy:

‘Xin hãy thương xót chúng con mà nhận lấy cung điện để chúng con được lợi ích.’

Khi ấy các vị trời Phạm Vương liền ở trước Phật, họ nhất tâm đồng thanh và dùng kệ tán thán rằng:

‘Thánh Chủ Thiên Trung Vương
Tiếng như chim diệu thanh
Xót thương các chúng sanh
Chúng con nay kính lễ

Thế Tôn rất hiếm có
Lâu xa hiện một lần
Một trăm tám mươi kiếp
Trống không chẳng có Phật

Ba đường ác đầy rẫy
Hàng thiên chúng giảm bớt
Nay Phật xuất thế gian
Làm con mắt chúng sanh

Nơi thế gian nương tựa
Cứu hộ hết tất cả
Là cha của chúng sanh
Xót thương lợi ích họ
Phước đời trước chúng con
Nay mới gặp Thế Tôn’

Khi các vị trời Phạm Vương đã dùng kệ tán thán Phật xong, mỗi vị đều thưa rằng:

‘Ngưỡng mong Thế Tôn hãy chuyển Pháp luân để độ thoát chúng sanh và khai mở Đạo tịch diệt.’

Tiếp đến các vị trời Phạm Vương nhất tâm đồng thanh mà nói kệ rằng:

‘Đại Thánh chuyển Pháp luân
Hiển thị các pháp tướng
Độ chúng sanh khổ não
Khiến được đại hoan hỷ

Chúng sanh nghe Pháp này
Đắc Đạo hoặc sanh thiên
Các đường ác giảm bớt
Người nhẫn thiện tăng nhiều’

Lúc bấy giờ Đại Thông Trí Thắng Như Lai lặng yên hứa khả.

Lại nữa, các vị Bhikṣu! Khi các vị trời Phạm Vương của năm triệu ức cõi nước về hướng nam đều tự thấy cung điện của mình sáng chói hiển hách chưa từng có, họ vui sướng hớn hở và sanh tâm hy hữu, rồi liền lập tức hội họp để cùng thảo luận về việc này.

‘Vì nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta có ánh sáng rực rỡ này?’

Khi đó ở trong chúng hội kia có một vị Đại Phạm Thiên Vương tên là Diệu Pháp.

Ngài vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

‘Các cung điện chúng ta
Quang minh chiếu rực rỡ
Tất có nhân duyên gì
Phải nên tìm tướng này

Trải qua trăm ngàn kiếp
Tướng này chưa từng thấy
Là đại đức sanh thiên
Hay Phật xuất thế gian’

Lúc bấy giờ các vị trời Phạm Vương từ năm triệu ức cõi nước, họ lấy những túi vải đựng các thiên hoa, rồi mỗi vị ngồi ở cung điện của mình và đồng đi về hướng bắc để tìm kiếm điềm tướng này. Sau đó họ thấy Đại Thông Trí Thắng Như Lai đang ngồi trên tòa sư tử ở dưới cội Đạo thụ nơi Đạo Tràng. Lại có chư thiên, long vương, tầm hương thần, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân đang cung kính vây quanh. Lại thấy 16 vị vương tử thỉnh Phật chuyển Pháp luân.

Sau đó, các vị trời Phạm Vương cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và đi nhiễu trăm ngàn vòng. Rồi liền dùng hoa trời mà rải lên Đức Phật. Những đóa hoa rải xuống đó tích tụ như núi Diệu Cao. Họ cũng rải hoa xuống cội Đạo thụ của Phật để cúng dường. Khi đã dâng hoa cúng dường, mỗi vị lấy cung điện của mình và dâng lên Đức Phật kia.

Rồi họ nói lời như vầy:

‘Xin hãy thương xót chúng con mà nhận lấy cung điện để chúng con được lợi ích.’

Khi ấy các vị trời Phạm Vương liền ở trước Phật, họ nhất tâm đồng thanh và dùng kệ tán thán rằng:

‘Thế Tôn rất khó gặp
Bậc phá các phiền não
Một trăm ba mươi kiếp
Giờ đây mới được thấy

Chúng sanh luôn đói khát
Mưa Pháp sẽ no đủ
Xưa nay chưa hề thấy
Bậc vô lượng trí tuệ

Ví như hoa linh thụy
Hôm nay mới được gặp
Các cung điện chúng con
Nhờ Phật quang trang nghiêm

Thế Tôn đại từ mẫn
Xin hãy nhận lấy cho’

Khi các vị trời Phạm Vương đã dùng kệ tán thán Phật xong, mỗi vị đều thưa rằng:

‘Ngưỡng mong Thế Tôn hãy chuyển Pháp luân để khiến hết thảy trời, ma, Phạm Vương, Đạo Nhân, và Phạm Chí trong thế gian đều được an ổn và được giải thoát.’

Tiếp đến các vị trời Phạm Vương nhất tâm đồng thanh mà nói kệ rằng:

‘Kính mong Thiên Nhân Tôn
Chuyển Pháp luân vô thượng
Khởi đánh trống Pháp lớn
Và thổi loa Pháp lớn

Tuôn khắp mưa Pháp lớn
Độ vô lượng chúng sanh
Chúng con đồng khuyến thỉnh
Diễn nói tiếng sâu xa’

Lúc bấy giờ Đại Thông Trí Thắng Như Lai lặng yên hứa khả.

Hướng tây nam và cho đến phương dưới cũng lại như thế.

Lúc bấy giờ, khi các vị trời Phạm Vương của năm triệu ức cõi nước ở phương trên đều tự thấy cung điện của mình sáng chói hiển hách chưa từng có, họ vui sướng hớn hở và sanh tâm hy hữu, rồi liền lập tức hội họp để cùng thảo luận về việc này.

‘Vì nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta có ánh sáng rực rỡ này?’

Khi đó ở trong chúng hội kia có một vị Đại Phạm Thiên Vương tên là Trì Kế.

Ngài vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

‘Nay vì nhân duyên gì?
Các cung điện chúng ta
Ánh quang minh uy đức
Trang nghiêm chưa từng có

Tướng vi diệu thế này
Xưa nay chưa hề thấy
Là đại đức sanh thiên
Hay Phật xuất thế gian’

Lúc bấy giờ các vị trời Phạm Vương từ năm triệu ức cõi nước, họ lấy những túi vải đựng các thiên hoa, rồi mỗi vị ngồi ở cung điện của mình và đồng đi về phương dưới để tìm kiếm điềm tướng này. Sau đó họ thấy Đại Thông Trí Thắng Như Lai đang ngồi trên tòa sư tử ở dưới cội Đạo thụ nơi Đạo Tràng. Lại có chư thiên, long vương, tầm hương thần, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân đang cung kính vây quanh. Lại thấy 16 vị vương tử thỉnh Phật chuyển Pháp luân.

Sau đó, các vị trời Phạm Vương cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và đi nhiễu trăm ngàn vòng. Rồi liền dùng hoa trời mà rải lên Đức Phật. Những đóa hoa rải xuống đó tích tụ như núi Diệu Cao. Họ cũng rải hoa xuống cội Đạo thụ của Phật để cúng dường. Khi đã dâng hoa cúng dường, mỗi vị lấy cung điện của mình và dâng lên Đức Phật kia.

Rồi họ nói lời như vầy:

‘Xin hãy thương xót chúng con mà nhận lấy cung điện để chúng con được lợi ích.’

Khi ấy các vị trời Phạm Vương liền ở trước Phật, họ nhất tâm đồng thanh và dùng kệ tán thán rằng:

‘Lành thay thấy chư Phật
Thánh Tôn cứu thế gian
Khéo ở ngục ba cõi
Giúp chúng sanh ra khỏi

Phổ Trí Thiên Nhân Tôn
Xót thương quần manh loại
Khéo mở cửa cam lộ
Rộng độ hết tất cả

Ở vô lượng kiếp xưa
Trống không chẳng có Phật
Khi Thế Tôn chưa hiện
Mười phương luôn u tối

Ba đường ác gia tăng
Phi thiên cũng đông đảo
Hàng thiên chúng giảm dần
Phần đông chết đọa ác

Không nghe Pháp từ Phật
Thường làm việc chẳng lành
Thể lực và trí tuệ
Thảy đều bị giảm hao

Do nghiệp tội nhân duyên
Mất đi nỗi niềm vui
Trụ ở pháp tà kiến
Chẳng biết phép tắc lành
Thiếu ân Phật hóa độ
Thường sa đọa đường ác

Phật là mắt thế gian
Lâu xa mới xuất thế
Vì thương xót chúng sanh
Xuất hiện ở thế gian

Siêu xuất thành chánh giác
Chúng con mừng khôn xiết
Cùng hết thảy chúng sanh
Hoan hỷ chưa từng có

Các cung điện chúng con
Nhờ Phật quang trang nghiêm
Nay dâng lên Thế Tôn
Xin hãy nhận lấy cho

Xin nguyện công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật Đạo’

Lúc bấy giờ, khi năm triệu ức vị trời Phạm Vương đã dùng kệ tán thán Phật xong, rồi mỗi vị đều thưa với Phật rằng:

‘Ngưỡng mong Thế Tôn hãy chuyển Pháp luân để độ thoát chúng sanh và mang đến nhiều sự an ổn cho họ.’

Các vị trời Phạm Vương liền nói kệ rằng:

‘Thế Tôn chuyển Pháp luân
Đánh trống Pháp cam lộ
Độ chúng sanh khổ não
Khai thị Đạo tịch diệt

Xin nhận lời khuyến thỉnh
Dùng đại âm vi diệu
Thương xót mà diễn nói
Vô lượng kiếp tập Pháp’

Lúc bấy giờ, khi Đại Thông Trí Thắng Như Lai đã nhận lời khuyến thỉnh của các vị trời Phạm Vương và 16 vị vương tử, Ngài liền ba lần chuyển Pháp Luân trong 12 tướng mà Đạo Nhân, Phạm Chí, trời, ma, Phạm Vương, hay các loài hữu tình khác ở thế gian đều không thể chuyển.

[Ngài dạy rằng:]

‘Đây là khổ. Đây là tập của khổ. Đây là diệt của khổ. Đây là con đường để chấm dứt khổ.’

Rồi thì Ngài rộng giảng Pháp 12 Duyên Khởi:

‘Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu nhập, sáu nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già chết và các ưu sầu khổ não.

Khi vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì sáu nhập diệt, sáu nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già chết và các ưu sầu khổ não diệt.’

Khi Phật thuyết Pháp này ở giữa đại chúng và hàng trời người thì sáu triệu ức nayuta người, do bởi không thọ tất cả pháp nên đối với các lậu, tâm được giải thoát. Hết thảy đều đắc thâm diệu thiền định, Ba Minh, Sáu Thần Thông, và đầy đủ Tám Giải Thoát.

Khi Ngài thuyết Pháp lần thứ nhì, thứ ba, và thứ tư thì ngàn vạn ức Hằng Hà sa nayuta chúng sanh cũng do bởi không thọ tất cả pháp nên đối với các lậu, tâm được giải thoát. Từ đó về sau, hàng Thanh Văn thánh chúng có nhiều vô lượng vô biên và không thể nào tính xuể.

Lúc bấy giờ 16 vị vương tử với thân đều là đồng tử, họ xuất gia và trở thành Cần Sách Nam. Các căn của họ sắc bén, trí tuệ minh liễu, đã từng cúng dường tỷ ức chư Phật, tu tịnh hạnh, và cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Họ đồng thưa với Phật rằng:

‘Thưa Thế Tôn! Vô lượng ngàn vạn ức đại đức Thanh Văn nơi đây đều đã thành tựu. Thế Tôn cũng nên vì chúng con mà thuyết Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Khi chúng con nghe rồi đều sẽ cùng tu học.

Thưa Thế Tôn! Chúng con tha thiết cầu tri kiến của Như Lai. Điều suy tư trong tận đáy lòng của chúng con, Phật cũng đã tự biết.’

Khi ấy có 80.000 ức người đã đi theo Chuyển Luân Thánh Vương, khi thấy 16 vị vương tử xuất gia, họ cũng cầu xin xuất gia và nhà vua liền cho phép.

Lúc bấy giờ Đức Phật kia nhận lời thỉnh cầu của 16 vị Cần Sách Nam. Trải qua 20.000 kiếp sau đó thì Ngài mới ở giữa bốn chúng đệ tử mà thuyết giảng Kinh Đại Thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.

Sau khi thuyết giảng Kinh này, 16 vị Cần Sách Nam vì cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên đều cùng thọ trì, đọc tụng, và thông đạt thâm thúy.

Lúc Ngài đã thuyết giảng Kinh này, 16 vị Bồ-tát Cần Sách Nam thảy đều tín thọ. Trong hàng Thanh Văn cũng có vị tín giải. Còn ngàn vạn ức chúng sanh khác thì đều sanh lòng nghi ngờ.

Suốt 8.000 kiếp, Đức Phật kia đã thuyết giảng Kinh này mà chưa từng ngừng nghỉ.

Khi đã thuyết giảng Kinh này xong, Ngài liền vào tĩnh thất và trụ trong thiền định đến 84.000 kiếp.

Khi 16 vị Bồ-tát Cần Sách Nam biết Phật nhập thất và trụ ở thiền định tịch nhiên, mỗi vị đều thăng Pháp tòa và cũng suốt 84.000 kiếp, họ rộng thuyết giảng tường tận Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cho bốn chúng đệ tử. Mỗi vị đều độ thoát sáu triệu ức nayuta Hằng Hà sa chúng sanh, chỉ dạy giáo Pháp để khiến họ được lợi ích an vui, và làm cho họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi 84.000 kiếp đã qua, Đức Phật Đại Thông Trí Thắng liền từ chánh định dậy và đi đến Pháp tòa.

Ngài an tường ngồi xuống và tuyên cáo đến hết thảy đại chúng rằng:

’16 vị Bồ-tát Cần Sách Nam này rất là hiếm có. Các căn của họ sắc bén, trí tuệ minh liễu, và đã từng cúng dường tỷ ức chư Phật. Họ luôn tu tịnh hạnh ở Đạo Tràng của chư Phật, thọ trì trí tuệ của Phật, khai thị chúng sanh và khiến chúng sanh vào trong ấy. Các ông đều nên luôn luôn thân cận và cúng dường họ.

Vì sao thế? Bởi nếu có Thanh Văn, Độc Giác, hay chư Bồ-tát nào mà có thể tín thọ Kinh Pháp của 16 vị Bồ-tát này thuyết giảng, cùng thọ trì và không hủy phạm, thì người này sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và đó chính là trí tuệ của Như Lai.'”

Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

“16 vị Bồ-tát này luôn vui thích thuyết giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị Bồ-tát giáo hóa sáu triệu ức nayuta Hằng Hà sa chúng sanh. Các chúng sanh ấy đời đời cùng sanh ra một nơi với Bồ-tát và khi nghe Pháp từ các ngài, họ thảy đều tín giải. Do nhân duyên đó, họ đã gặp bốn triệu ức chư Phật Thế Tôn và mãi đến hiện nay vẫn còn chưa hết.

Này các Bhikṣu! Bây giờ Ta nói cho các ông biết. 16 vị đệ tử Cần Sách Nam của Đức Phật kia, nay họ đều đã đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và hiện đang thuyết Pháp ở các quốc độ trong mười phương. Các Ngài có vô lượng tỷ ức quyến thuộc là chư Bồ-tát và hàng Thanh Văn.

Có hai vị thành Phật ở phương đông. Vị thứ nhất tên là Bất Động tại cõi nước Diệu Hỷ. Vị thứ nhì tên là Diệu Cao Đảnh.

Có hai vị thành Phật ở hướng đông nam. Vị thứ nhất tên là Sư Tử Âm. Vị thứ nhì tên là Sư Tử Tướng.

Có hai vị thành Phật ở phương nam. Vị thứ nhất tên là Hư Không Trụ. Vị thứ nhì tên là Thường Diệt.

Có hai vị thành Phật ở hướng tây nam. Vị thứ nhất tên là Đế Tướng. Vị thứ nhì tên là Tịnh Tướng.

Có hai vị thành Phật ở phương tây. Vị thứ nhất tên là Vô Lượng Thọ. Vị thứ nhì tên là Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não.

Có hai vị thành Phật ở hướng tây bắc. Vị thứ nhất tên là Hoắc Diệp Đàn Hương Thần Thông. Vị thứ nhì tên là Diệu Cao Tướng.

Có hai vị thành Phật ở phương bắc. Vị thứ nhất tên là Vân Tự Tại. Vị thứ nhì tên là Vân Tự Tại Vương.

Ở hướng đông bắc có Đức Phật hiệu là Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy.

Vị thứ 16 chính là Ta, Đức Phật Năng Tịch, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở Thế giới Kham Nhẫn.

Này các Bhikṣu! Khi Ta và chư Phật kia đang lúc làm Cần Sách Nam vào thuở xưa, mỗi vị đều giáo hóa vô lượng tỷ ức Hằng Hà sa chúng sanh. Các chúng sanh ấy do nghe Pháp từ nơi Ta nên họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những ai trong các chúng sanh đó mà đến nay vẫn còn trụ ở quả vị Thanh Văn, thì Ta luôn giáo hóa họ để đạt đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các hạng người như vậy, Ta dùng Pháp này để lần lần dẫn họ vào Phật Đạo.

Vì sao thế? Bởi trí tuệ của Như Lai thật khó tin và khó hiểu.

Vô lượng Hằng Hà sa chúng sanh mà ta hóa độ thuở đó chính là hàng Bhikṣu các ông đây. Sau khi Ta diệt độ, các ông cũng sẽ là các đệ tử Thanh Văn của Ta ở trong đời vị lai.

Lại nữa, sau khi Ta diệt độ, có những đệ tử do không nghe được Kinh này nên sẽ không hay không biết gì về nơi tu hành của Bồ-tát. Tuy nhiên, do bởi công đức đạt được của chính mình, họ khởi sanh ý tưởng diệt độ và sẽ vào tịch diệt. Riêng Ta sẽ làm Phật ở quốc độ khác và tên gọi cũng khác. Mặc dù những người này khởi sanh ý tưởng diệt độ và vào tịch diệt, họ sẽ ở quốc độ kia mà cầu trí tuệ của Phật và nghe được Kinh này. Duy chỉ với Phật Thừa mới được diệt độ mà không có thừa nào khác–ngoại trừ chư Như Lai dùng phương tiện để thuyết Pháp.

Này các Bhikṣu! Như Lai tự biết khi nào sẽ đến lúc vào tịch diệt; khi nào thì đại chúng thanh tịnh, tín giải kiên cố, liễu đạt không pháp, và vào sâu thiền định.

Lúc đó, Như Lai sẽ triệu tập chư Bồ-tát cùng hàng Thanh Văn để thuyết giảng Kinh này và nói rằng:

‘Thế gian không có hai thừa để được diệt độ. Duy nhất Phật Thừa mới được diệt độ.’

Này các Bhikṣu! Nên biết rằng, Như Lai dùng phương tiện để vào sâu tánh của chúng sanh. Biết rằng họ chỉ ưa thích Pháp nhỏ và chấp sâu nơi năm dục, nên vì thế Ngài nói tịch diệt. Khi nghe được, những người này sẽ liền tín thọ.

Đây ví như có một con đường nguy hiểm ghê rợn. Nơi đó vắng tanh bóng người và thật kinh hoàng. Nếu có một đám đông muốn qua con đường này để đến nơi châu báu, trong ấy có một vị đạo sư với trí tuệ sáng suốt, khéo biết chỗ nào qua được, chỗ nào không qua được của hiểm đạo kia và ngài muốn dẫn họ vượt qua hiểm nạn này. Ở giữa đường, nhóm người đó mệt mỏi và muốn quay về.

Họ thưa với vị đạo sư rằng:

‘Chúng tôi đã kiệt sức và còn sợ hãi nữa. Chúng tôi không thể nào đi tiếp được. Đường ở phía trước quá xa xôi nên bây giờ chúng tôi muốn quay về.’

Vị đạo sư với nhiều phương tiện, ngài nghĩ như vầy:

‘Các người này thật đáng thương. Sao nỡ đành từ bỏ châu báu quý và lại muốn quay trở về?’

Nghĩ như thế xong, bằng vào sức phương tiện, ngài biến hóa ra một thành quách với độ rộng lớn hơn cả 300 yojana ở ngay giữa hiểm đạo.

Sau đó ngài bảo họ rằng:

‘Các người chớ sợ sệt và đừng thoái lùi. Bây giờ các người có thể dừng lại ở trong đại thành này và tùy ý làm việc mình muốn. Nếu vào thành này thì sẽ liền được an ổn. Sau đó, nếu như muốn tiến về nơi châu báu ở phía trước thì cũng có thể đi.’

Ngay lúc ấy, nhóm người kiệt quệ liền vui mừng khôn xiết và khen là việc chưa từng có:

‘Bây giờ chúng ta sẽ thoát ra khỏi đường ác và mau được an ổn.’

Rồi thì các người ấy liền vào hóa thành ở phía trước và nghĩ rằng họ đã được ra khỏi nên cảm thấy an vui.

Lúc bấy giờ vị đạo sư biết những người này đã nghỉ ngơi xong và không còn mệt mỏi nữa nên liền diệt mất hóa thành.

‘Chúng ta hãy đi nào, sắp gần tới nơi châu báu rồi! Đại thành lúc nãy chính là do ta biến hóa để các người nghỉ ngơi đó thôi.’

Này các Bhikṣu! Như Lai cũng lại như vậy. Ta nay vì các ông mà làm bậc đại đạo sư. Như Lai biết chúng sanh cần thoát ra đường ác đầy hiểm nạn trùng trùng của sanh tử phiền não. Thế nên Như Lai đã thị hiện để hóa độ.

Nếu chúng sanh nào khi nghe chỉ có một Phật Thừa, rồi liền không muốn thấy Phật và không muốn thân cận, trái lại họ nghĩ như thế này:

‘Phật Đạo xa thăm thẳm; phải chịu vô vàn gian khổ mới có thể thành tựu.’

Phật liền biết tâm họ là khiếp nhược và thấp kém. Vì thế đã dùng sức phương tiện để họ nghỉ ngơi ở giữa đường nên nói có hai tịch diệt.

Nếu chúng sanh nào trụ ở hai địa này, khi ấy Như Lai sẽ liền bảo họ rằng:

‘Các ông vẫn còn chưa viên mãn. Các địa mà ông đang trụ thì gần đến trí tuệ của Phật. Hãy nên quán sát và tư duy rằng: Tịch diệt mà mình đang chứng đắc chẳng phải là chân thật. Đây chỉ là do Như Lai dùng sức phương tiện nên ở trong một Phật Thừa mà phân biệt nói có ba.’

Đây ví như vị đạo sư kia. Vì muốn nhóm người đó nghỉ ngơi nên đã hóa làm một đại thành.

Khi đã nghỉ ngơi xong, ngài bảo họ rằng:

‘Sắp tới nơi châu báu rồi! Thành này không phải thật, là do ta biến hóa ra đấy.'”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Đại Thông Trí Thắng Phật
Mười kiếp ngồi Đạo Tràng
Phật Pháp chẳng hiện tiền
Không được thành Phật Đạo

Chư thiên thần long vương
Phi thiên các loài khác
Luôn mưa xuống hoa trời
Để cúng dường Phật kia

Chư thiên đánh trống trời
Trỗi muôn loại âm nhạc
Gió hương thổi hoa héo
Mưa xuống hoa đẹp tươi

Trải qua mười tiểu kiếp
Mới được thành Phật Đạo
Hàng trời cùng nhân thế
Tâm đều mừng hớn hở

Quyến thuộc của Phật kia
Cùng mười sáu vương tử
Ngàn vạn ức vây quanh
Đồng đi đến chỗ Phật

Đầu lễ dưới chân Phật
Khuyến thỉnh chuyển Pháp luân
‘Thánh Sư Tử mưa Pháp
Thấm nhuần hết chúng con’

Thế Tôn rất khó gặp
Lâu xa hiện một lần
Vì giác ngộ chúng sanh
Chấn động hết tất cả

Các thế giới phương đông
Năm trăm vạn ức cõi
Phạm cung điện sáng lòa
Xưa nay chưa từng có

Phạm Thiên thấy tướng này
Tìm theo đến chỗ Phật
Rải hoa để cúng dường
Và dâng lên cung điện

Thỉnh Phật chuyển Pháp luân
Dùng kệ mà tán thán
Phật biết chưa đến lúc
Thọ thỉnh ngồi lặng yên

Ba phương bốn hướng phụ
Trên dưới cũng như vậy
Rải hoa hiến cung điện
Thỉnh Phật chuyển Pháp luân

‘Thế Tôn rất khó gặp
Nguyện khởi đại từ bi
Rộng mở cửa cam lộ
Chuyển Pháp luân vô thượng’

Thế Tôn vô lượng tuệ
Tiếp thọ lời thỉnh cầu
Tuyên thuyết đủ mọi Pháp
Bốn Đế Mười Hai Duyên

Vô minh đến già chết
Đều từ sanh duyên hữu
Hoạn nạn từ đây ra
Các ông phải nên biết

Khi tuyên dương Pháp này
Sáu trăm vạn ức cai
Diệt tận mọi khổ não
Đều đắc Đạo Ứng Chân

Lúc thuyết Pháp lần hai
Ngàn vạn Hằng sa chúng
Trong các pháp chẳng thọ
Cũng đắc Đạo Ứng Chân

Người đắc Đạo từ đó
Số ấy không tính kể
Vạn ức kiếp toán số
Không thể biết giới hạn

Mười sáu vị vương tử
Thọ giới Cần Sách Nam
Đều cùng thỉnh Phật kia
Diễn nói Pháp Đại Thừa

‘Chúng con cùng quyến thuộc
Đều sẽ thành Phật Đạo
Nguyện được như Thế Tôn
Tuệ nhãn thanh tịnh nhất’

Phật biết tâm đồng tử
Sự tu hành đời trước
Với vô lượng nhân duyên
Cùng đủ mọi thí dụ

Tuyên thuyết giảng Sáu Độ
Và các việc thần thông
Phân biệt Pháp chân thật
Nơi Bồ-tát hành Đạo
Thuyết Kinh Pháp Hoa này
Kệ như cát sông Hằng

Phật kia giảng Kinh xong
Tĩnh thất nhập thiền định
Nhất tâm ngồi một nơi
Tám mươi bốn ngàn kiếp

Mỗi vị Cần Sách Nam
Biết Phật chưa xuất định
Vì vô lượng ức chúng
Thuyết Phật vô lượng tuệ

Mỗi vị ngồi Pháp tòa
Giảng Kinh Đại Thừa này
Sau khi Phật tịch diệt
Tuyên dương trợ hoằng Pháp

Mỗi vị Cần Sách Nam
Hóa độ các chúng sanh
Đến sáu trăm vạn ức
Nhiều như cát sông Hằng

Sau khi Phật kia tịch
Những ai nghe Pháp này
Bất cứ Phật độ nào
Luôn sanh cùng đạo sư

Mười sáu Cần Sách Nam
Hành Phật Đạo đầy đủ
Hiện nay ở mười phương
Ai cũng thành chánh giác

Người nghe Pháp thuở đó
Nơi chư Phật hiện tại
Những ai trụ Thanh Văn
Dần dần dạy Phật Đạo

Ta là một trong đó
Cũng từng vì các ông
Nên đã dùng phương tiện
Dẫn vào trí của Phật

Do bởi nhân duyên xưa
Nay giảng Kinh Pháp Hoa
Khiến ông vào Phật Đạo
Các ông đừng kinh sợ

Ví như có hiểm đạo
Hoang vu nhiều thú dữ
Lại cũng không cỏ nước
Nơi mà ai cũng sợ

Vô số ngàn vạn chúng
Muốn qua hiểm đạo này
Đường dài xa vời vợi
Năm trăm yojana

Có một vị đạo sư
Với trí tuệ uyên bác
Sáng suốt tâm kiên định
Cứu họ khỏi hiểm nạn

Mọi người đều mệt mỏi
Mà thưa đạo sư rằng
‘Giờ chúng tôi mệt lắm
Và muốn quay trở về’

Đạo sư nghĩ như vầy
‘Họ thật đáng thương thay
Vì sao muốn quay về?
Bỏ đi trân bảo quý’

Lập tức nghĩ phương tiện
Sử dụng sức thần thông
Biến một đại thành quách
Với nhà cửa trang nghiêm

Có khu vườn xung quanh
Kênh nước và ao tắm
Cửa thành lầu các cao
Với gái trai đông đúc

Khi đã biến hóa xong
Bảo họ ‘chớ sợ hãi
Các người vào thành này
Tùy sở thích vui chơi’

Khi họ vào thành rồi
Lòng vui mừng khôn xiết
Thảy đều nghĩ bình an
Tự cho đã thoát khỏi

Biết họ nghỉ ngơi xong
Đạo sư nhóm họp bảo

‘Các người nên tiến bước
Đây chỉ là hóa thành
Thấy các người mỏi mệt
Giữa đường muốn thoái lui

Nên dùng sức phương tiện
Quyền xảo hóa thành này
Bây giờ hãy tinh tấn
Sẽ đồng đến nơi báu’

Như Lai cũng như vậy
Đạo sư của muôn loài

Thấy những ai cầu Đạo
Giữa đường mà kiệt quệ
Chẳng thể vượt sanh tử
Phiền não các hiểm đạo

Nên dùng sức phương tiện
Tạm nghỉ, nói tịch diệt
‘Các ông đã diệt khổ
Việc làm đều đã xong’

Biết đã đến tịch diệt
Đều đắc Đạo Ứng Chân
Rồi mới triệu đại chúng
Để thuyết Pháp chân thật

Sức phương tiện chư Phật
Phân biệt nói ba thừa
Chỉ có một Phật Thừa
Hai thừa khác tạm nghỉ

Nay Ta sẽ nói thật
Các ông chưa diệt độ
Vì Phật Nhất Thiết Trí
Hãy phát đại tinh tấn

Khi chứng Nhất Thiết Trí
Mười Lực Phật Pháp khác
Đầy đủ ba hai tướng
Lúc đó mới chân diệt

Chư Phật là đạo sư
Tạm nghỉ, nói tịch diệt
Biết đã nghỉ ngơi xong
Dẫn vào trí của Phật”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 3

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 4

♦ PHẨM 8: 500 ĐỆ TỬ ĐƯỢC THỌ KÝ

Lúc bấy giờ Tôn giả Mãn Từ Tử nghe về trí tuệ phương tiện và sự tùy nghi thuyết Pháp từ Đức Phật. Lại nghe các vị đại đệ tử được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lại nghe về các việc nhân duyên của đời trước. Lại nghe về chư Phật có sức đại tự tại thần thông. Ngài được điều chưa từng có, tâm được thanh tịnh và vui mừng hớn hở.

Sau đó, ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến ở trước Phật, cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, và đứng qua một bên. Ngài chiêm ngưỡng tôn nhan và mắt không muốn rời một thoáng.

Rồi ngài nghĩ như vầy:

“Thế Tôn rất kỳ đặc. Việc làm của Ngài hiếm có thay. Như Lai tùy thuận mọi chủng tánh của chúng sanh trong thế gian. Ngài dùng phương tiện với tri kiến mà thuyết Pháp cho chúng sanh và giúp họ thoát khỏi muôn điều tham trước. Chúng con chẳng thể nào tuyên nói hết công đức của Phật. Duy Phật Thế Tôn mới có thể biết tận đáy lòng và bổn nguyện của chúng con.”

Lúc bấy giờ Phật bảo các vị Bhikṣu [bíc su] rằng:

“Các ông có thấy Mãn Từ Tử này không? Trong số người thuyết Pháp, Ta luôn ngợi khen ông ấy là tối đệ nhất. Ta cũng thường ngợi khen mọi thứ công đức và sự tinh cần hộ trì của ông ấy để giúp Như Lai tuyên dương Phật Pháp. Ở trong bốn chúng đệ tử, ông ấy có thể chỉ dạy để khiến họ được lợi ích an lạc. Lại giải thích đầy đủ Chánh Pháp của Phật để những hành giả đồng tu tịnh hạnh được sự lợi ích lớn. Ngoại trừ Như Lai, không ai có thể biết hết ngôn luận biện tài của ông ấy.

Các ông chớ bảo Mãn Từ Tử chỉ có thể hộ trì và tuyên dương giáo Pháp của Ta. Ở nơi 90 ức chư Phật quá khứ, ông ấy đã hộ trì và tuyên dương Chánh Pháp của chư Phật. Trong số người thuyết Pháp của chư Phật kia, ông ấy cũng là tối đệ nhất.

Lại nữa, chư Phật thuở đó thuyết giảng về không pháp, ông ấy đã minh liễu thông đạt, đắc Bốn Vô Ngại Biện, luôn có thể thuyết Pháp chính xác, thanh tịnh, và không có hoài nghi. Lại đầy đủ sức thần thông của Bồ-tát và đời đời luôn tu tịnh hạnh. Dân chúng của chư Phật kia đều bảo ông ta thật là một vị Thanh Văn. Kỳ thật, Mãn Từ Tử chỉ dùng phương tiện để làm lợi ích vô lượng trăm ngàn chúng sanh.

Lại nữa, ông ấy hóa độ vô lượng vô số người và khiến họ an lập nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì muốn thanh tịnh Phật độ nên ông ấy luôn làm Phật sự và giáo hóa chúng sanh.

Này các Bhikṣu! Trong số người thuyết Pháp của bảy Đức Phật quá khứ, Mãn Từ Tử cũng là đệ nhất. Nay trong số người thuyết Pháp của Ta, ông ấy cũng là đệ nhất. Trong số người thuyết Pháp của chư Phật trong kiếp Hiền về sau, ông ấy cũng lại là đệ nhất và đều luôn hộ trì cùng tuyên dương Phật Pháp. Vào đời vị lai cũng lại như vậy, Mãn Từ Tử sẽ hộ trì và tuyên dương vô lượng vô biên giáo Pháp của chư Phật. Lại giáo hóa và làm lợi ích vô lượng chúng sanh, khiến họ an lập nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì muốn thanh tịnh Phật độ nên ông ấy luôn chuyên cần tinh tấn để giáo hóa chúng sanh.

Sau đó, Mãn Từ Tử sẽ dần dần đầy đủ Đạo Bồ-tát. Trải qua vô lượng vô số kiếp, ông ấy sẽ ở quốc độ này mà đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hiệu là Pháp Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đức Phật đó sẽ lấy Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới nhiều như số cát sông Hằng để làm một Phật độ. Đất làm bằng bảy báu và bằng phẳng như lòng bàn tay. Cõi nước đó không có núi đồi, khe suối, hay ao ngòi. Có những đài bảy báu đầy khắp trong quốc độ ấy. Cung điện của chư thiên ở hư không gần kề với thế gian. Trời và người có thể qua lại và đều thấy lẫn nhau.

Cõi nước đó không có các đường ác và cũng chẳng có người nữ. Tất cả chúng sanh đều hóa sanh và không có sự dâm dục. Họ đắc đại thần thông, thân phát ra ánh sáng, và phi hành tự tại. Ý niệm của họ kiên cố, tinh tấn trí tuệ, toàn thân đều là sắc vàng và có 32 tướng để trang nghiêm.

Chúng sanh trong cõi nước ấy luôn chỉ dùng hai thức ăn:

1. thức ăn của Pháp hỷ
2. thức ăn của thiền duyệt

Phật độ ấy có vô lượng vô số ngàn vạn ức nayuta [na du ta] chư Bồ-tát. Họ đắc đại thần thông, Bốn Vô Ngại Biện và khéo có thể giáo hóa muôn loại chúng sanh. Hàng Thanh Văn nơi đó nhiều vô số kể và chẳng thể nào biết hết. Họ đều được đầy đủ Sáu Thần Thông, Ba Minh và Tám Giải Thoát.

Cõi nước của Đức Phật ấy có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế. Kiếp tên là Bảo Minh. Quốc độ tên là Thiện Tịnh. Đức Phật đó có thọ mạng dài vô lượng vô số kiếp. Giáo Pháp sẽ trụ thế rất lâu. Sau khi Ngài diệt độ, tháp bảy báu sẽ được xây ở khắp mọi nơi trong cõi nước ấy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Các Bhikṣu lắng nghe
Phật tử nơi hành Đạo
Do khéo học phương tiện
Được chẳng thể nghĩ bàn

Biết họ thích Pháp nhỏ
Cũng sợ trí tuệ lớn
Cho nên chư Bồ-tát
Làm Thanh Văn Duyên Giác

Dùng vô số phương tiện
Độ muôn loài chúng sanh
Tự nói là Thanh Văn
Cách Phật Đạo xa xăm

Độ thoát vô lượng chúng
Thảy đều được thành tựu
Cho dù kẻ lười biếng
Dần dần sẽ thành Phật

Trong ẩn hạnh Bồ-tát
Ngoài hiện là Thanh Văn
Thiểu dục nhàm sanh tử
Kỳ thật tịnh Phật độ

Bảo họ có ba độc
Lại hiện tướng tà kiến
Đệ tử Ta như thế
Phương tiện độ chúng sanh

Nếu Ta nói trọn đủ
Muôn sự việc biến hóa
Chúng sanh khi nghe xong
Tất sẽ khởi hoài nghi

Mãn Từ Tử này đây
Ở ngàn ức Phật xưa
Tinh cần siêng tu hành
Hộ trì chư Phật Pháp

Vì cầu vô thượng trí
Mà ở nơi chư Phật
Hiện làm đại đệ tử
Đa văn có trí tuệ

Lời giảng chẳng sợ hãi
Khéo làm người hoan hỷ
Chưa bao giờ mỏi mệt
Luôn hỗ trợ Phật sự

Đã đắc đại thần thông
Đủ Bốn Vô Ngại Biện
Biết các căn lợi độn
Luôn giảng Pháp thanh tịnh

Diễn sướng nghĩa chân thật
Dạy ngàn ức chúng sanh
Khiến trụ Pháp Đại Thừa
Để thanh tịnh Phật độ

Vị lai cũng cúng dường
Vô lượng vô số Phật
Hộ trì tuyên Chánh Pháp
Cũng tự tịnh Phật độ

Thường dùng các phương tiện
Thuyết Pháp chẳng kinh sợ
Độ vô số chúng sanh
Thành tựu Nhất Thiết Trí

Cúng dường chư Như Lai
Hộ trì Pháp bảo tạng
Sau đó sẽ thành Phật
Danh hiệu là Pháp Minh

Quốc độ tên Thiện Tịnh
Do bảy báu hợp thành
Kiếp tên là Bảo Minh
Chư Bồ-tát rất đông

Số ấy vô lượng ức
Đều đắc đại thần thông
Sức uy đức đầy đủ
Đầy khắp cõi nước đó

Thanh Văn cũng vô số
Ba Minh Tám Giải Thoát
Đắc Bốn Vô Ngại Biện
Làm chư Tăng nơi đó

Chúng sanh quốc độ ấy
Dâm dục đều đã đoạn
Thuần nhất chỉ hóa sanh
Tướng hảo trang nghiêm thân

Pháp hỷ thiền duyệt thực
Không nghĩ thức ăn khác
Chẳng có hàng nữ nhân
Cũng không các đường ác

Bhikṣu Mãn Từ Tử
Khi công đức viên mãn
Sẽ được cõi tịnh độ
Chư thánh hiền rất đông
Vô lượng việc như thế
Ta nay chỉ lược nói”

Lúc bấy giờ 1.200 vị Ứng Chân với tâm ý tự tại, họ nghĩ như vầy:

“Chúng ta ai nấy đều hoan hỷ và được điều chưa từng có. Nếu được Thế Tôn thọ ký như các vị đại đệ tử khác thì sẽ vui biết bao!”

Đức Phật biết tâm niệm của họ nên bảo ngài Đại Ẩm Quang rằng:

“Nay Như Lai sẽ thứ tự thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho 1.200 vị Ứng Chân đang ở trước Ta đây.

Ở giữa đại chúng này, vị đại đệ tử của Ta là Bhikṣu Giải Bổn Tế, sẽ cúng dường 62.000 ức chư Phật. Sau đó ông ấy sẽ thành Phật, hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

500 vị Ứng Chân, gồm có: Mộc Qua Lâm Ẩm Quang, Tượng Ẩm Quang, Hà Ẩm Quang, Hắc Quang, Xuất Hiện, Vô Diệt, Thất Tú, Phòng Tú, Thiện Dung, Tiểu Lộ, Thiện Lai, và những vị khác như thế. Họ đều sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và thảy đồng một danh hiệu, gọi là Phổ Minh.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Bhikṣu Giải Bổn Tế
Sẽ thấy vô lượng Phật
Trải qua vô số kiếp
Rồi thành Đẳng Chánh Giác

Thường phóng đại quang minh
Đầy đủ các thần thông
Danh vang thấu mười phương
Tất cả đều cung kính

Luôn nói Đạo vô thượng
Vì thế tên Phổ Minh
Cõi nước ấy thanh tịnh
Bồ-tát đều dũng mãnh

Thảy ngồi diệu lầu các
Du hành mười phương cõi
Dùng phẩm vật vô thượng
Phụng hiến dâng chư Phật

Làm cúng dường đó xong
Tâm sanh đại hoan hỷ
Vụt thoáng về nước mình
Thần lực họ như thế

Phật thọ sáu vạn kiếp
Chánh Pháp trụ gấp bội
Tượng Pháp càng bội hơn
Pháp diệt chúng ưu sầu

Năm trăm Bhikṣu đây
Thứ tự sẽ thành Phật
Đồng hiệu là Phổ Minh
Triển chuyển mà thọ ký:
‘Sau khi Ta diệt độ
Ông sẽ thành Phật Đạo’

Thế gian nơi giáo hóa
Cũng như Ta hôm nay
Quốc độ trang nghiêm tịnh
Cùng những sức thần thông
Thanh Văn chư Bồ-tát
Chánh Pháp và Tượng Pháp
Thọ mạng nhiều hay ít
Đều như đã nói trên

Đại Ẩm Quang nên biết
Năm trăm vị tự tại
Và các Thanh Văn khác
Cũng sẽ lại như thế
Ai không ở nơi đây
Ông vì họ tuyên giảng”

Khi 500 vị Ứng Chân được thọ ký ở trước Đức Phật xong, họ vui mừng hớn hở và liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến ở trước Phật, rồi cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và ăn năn tự trách:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con luôn nghĩ rằng mình đã đắc cứu cánh diệt độ. Giờ mới biết chúng con như kẻ vô trí.

Vì sao thế? Bởi chúng con phải nên đắc trí tuệ của Như Lai, nhưng lại thỏa mãn với trí nhỏ mà cho là đủ.

Thưa Thế Tôn! Đây ví như có người đến nhà của bạn thân, rồi bị say rượu và nằm ngất đi. Giữa lúc đó thì người bạn có việc trong quan phủ nên cần đi vắng. Người bạn đã lấy cho một viên minh châu vô giá và may vào trong vạt áo rồi từ biệt.

Kẻ đó do say rượu nên đều chẳng hay biết. Khi tỉnh giấc, gã đi đến nước khác. Vì miếng cơm manh áo nên dốc sức làm việc và phải chịu vô vàn gian nan. Nếu có được một chút, hắn cho là đủ.

Sau này, người bạn gặp thấy nên bảo rằng:

‘Trời ơi, ông bạn! Sao chỉ vì miếng cơm manh áo mà đến nông nỗi thế này? Lúc xưa, tôi vì muốn bạn được an vui và có năm dục để vui sướng, nên ngày tháng năm đó, mình đã lấy cho bạn một viên minh châu vô giá và may vào trong vạt áo. Nó luôn ở trong ấy từ xưa đến nay mà bạn chẳng biết. Vì tìm kế sanh nhai mà bạn phải chịu nhiều ưu sầu khổ não, thật là ngu khờ quá đi! Giờ đây bạn có thể dùng viên minh châu này để đổi những gì bạn muốn. Bạn sẽ luôn được như ý và sẽ không bị thiếu thốn.’

Đức Phật cũng lại như thế. Khi còn là một vị Bồ-tát, ngài đã giáo hóa và khiến chúng con phát tâm để đạt đến Nhất Thiết Trí. Nhưng chúng con lại quên bẵng đi và chẳng hay chẳng biết. Khi đã đắc Đạo Ứng Chân, chúng con tự cho là đã diệt độ. Giữa dòng đời nghiệt ngã, được một chút mà cho là đủ. Tuy vậy, thệ nguyện Nhất Thiết Trí vẫn chưa mất.

Bây giờ Thế Tôn muốn chúng con giác ngộ nên nói lời như vầy:

‘Này các Bhikṣu! Sự chứng đắc của các ông không phải là Cứu Cánh Tịch Diệt. Từ lâu xa, Ta vì muốn các ông gieo trồng căn lành ở nơi của Phật, nên Như Lai đã dùng phương tiện mà khai thị tướng của tịch diệt. Kỳ thật, các ông vẫn chưa được diệt độ.’

Thưa Thế Tôn! Mãi đến giờ chúng con mới biết thật rằng, mình là một vị Bồ-tát và được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do nhân duyên này, chúng con vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.”

Lúc bấy giờ ngài Giải Bổn Tế và những vị khác muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Chúng con nghe vô thượng
Tiếng an ổn thọ ký
Hoan hỷ chưa từng có
Lễ vô lượng Phật trí

Nay ở trước Thế Tôn
Sám hối mọi lỗi lầm
Nơi vô lượng Phật bảo
Được phần nhỏ tịch diệt
Như kẻ ngu vô trí
Tự cho đã đủ rồi

Ví như kẻ bần cùng
Đến nhà người bạn thân
Nhà ấy rất giàu sang
Đầy đủ món ăn ngon

Bạn lấy vô giá châu
May vào trong vạt áo
Rồi lặng lẽ ra đi
Kẻ ngủ chẳng hay gì

Gã này khi tỉnh dậy
Du hành sang nước khác
Cầu miếng cơm manh áo
Cuộc sống đầy gian khó

Được ít cho là đủ
Chẳng mong điều tốt hơn
Không biết trong vạt áo
Có minh châu vô giá

Người bạn cho minh châu
Lúc thấy kẻ nghèo đó
Khi đã quở trách xong
Chỉ nơi may minh châu

Kẻ nghèo thấy minh châu
Lòng vui mừng khôn xiết
Được tài vật giàu sang
Năm dục để thọ hưởng

Chúng con cũng như vậy
Thế Tôn suốt đêm dài
Luôn từ mẫn giáo hóa
Khiến trồng vô thượng nguyện

Bởi chúng con vô trí
Không hay cũng không biết
Được phần nhỏ tịch diệt
Tưởng đủ chẳng cầu thêm

Nay Phật giác ngộ con
Nói thật chẳng diệt độ
Đắc Phật trí vô thượng
Khi đó mới chân diệt

Con nay nghe từ Phật
Việc thọ ký trang nghiêm
Cùng triển chuyển thọ ký
Khắp thân tâm hoan hỷ”

♦ PHẨM 9: THỌ KÝ CHO HÀNG HỮU HỌC VÀ BẬC VÔ HỌC

Lúc bấy giờ Tôn giả Khánh Hỷ và Tôn giả Phú Chướng nghĩ như vầy:

“Chúng ta ai cũng thường nghĩ, nếu như được thọ ký thì sẽ vui lắm thay!”

Liền từ chỗ ngồi đứng dậy, họ đến ở trước Phật, rồi cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và đồng thưa rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nên có một phần trong này. Như Lai là nơi nương tựa duy nhất của chúng con.

Lại nữa, hàng trời người cùng phi thiên trong hết thảy thế gian đều thấy biết chúng con. Tôn giả Khánh Hỷ luôn làm thị giả để hộ trì Pháp tạng. Tôn giả Phú Chướng là con của Phật. Nếu Đức Phật thấy thích hợp để thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì như thế điều mong ước của chúng con sẽ được mãn nguyện và điều ước vọng của đại chúng cũng sẽ mãn túc.”

Lúc bấy giờ có 2.000 người thuộc hàng Thanh Văn Hữu Học và bậc Vô Học đều từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, đến ở trước Phật, nhất tâm chắp tay, và chiêm ngưỡng Thế Tôn. Họ bày tỏ ý nguyện như Tôn giả Khánh Hỷ và Tôn giả Phú Chướng, rồi đứng qua một bên.

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Khánh Hỷ:

“Vào đời vị lai ông sẽ thành Phật, hiệu là Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Ông sẽ cúng dường và hộ trì Pháp tạng của 62 ức chư Phật, rồi sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ông sẽ giáo hóa 200 triệu ức Hằng Hà sa chư Bồ-tát và khiến họ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Quốc độ tên là Thường Lập Thắng Phan. Cõi nước đó thanh tịnh và đất làm bằng lưu ly. Kiếp tên là Diệu Âm Biến Mãn.

Đức Phật ấy có thọ mạng dài vô lượng ngàn vạn ức vô số kiếp. Giả như có người ở trong ngàn vạn ức vô lượng vô số kiếp mà tính đếm thì cũng chẳng thể biết được. Thời gian Chánh Pháp trụ thế sẽ gấp bội thời gian thọ mạng. Thời gian Tượng Pháp trụ thế lại càng gấp bội hơn thời gian Chánh Pháp.

Này Khánh Hỷ! Công đức của Đức Phật Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương sẽ được vô lượng ngàn vạn ức Hằng Hà sa chư Phật Như Lai trong mười phương đều đồng tán thán.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ta nay giữa chư Tăng
Nói Khánh Hỷ trì Pháp
Sẽ cúng dường chư Phật
Sau đó thành chánh giác
Hiệu là Sơn Hải Tuệ
Tự Tại Thông Vương Phật

Cõi nước ấy thanh tịnh
Tên Thường Lập Thắng Phan
Giáo hóa chư Bồ-tát
Số như cát sông Hằng

Phật có đại uy đức
Danh vang khắp mười phương
Thọ mạng dài vô lượng
Là vì thương chúng sanh

Chánh Pháp bội thọ mạng
Tượng Pháp càng bội hơn
Vô số các chúng sanh
Số như cát sông Hằng
Ở trong Phật Pháp đó
Trồng nhân duyên Phật Đạo”

Lúc bấy giờ trong Pháp hội có 8.000 vị sơ phát tâm Bồ-tát, họ đều nghĩ như vầy:

“Chúng ta chưa từng bao giờ nghe, dù cả chư đại Bồ-tát, mà được thọ ký như thế này. Vì nhân duyên gì mà hàng Thanh Văn lại được thọ ký như vậy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ-tát nên bảo họ rằng:

“Các thiện nam tử! Ở nơi của Đức Phật Không Vương, Ta và Khánh Hỷ đã đồng thời phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Khánh Hỷ luôn thích đa văn, còn Ta luôn chuyên cần tinh tấn. Cho nên, Ta đã thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và Khánh Hỷ hộ trì Pháp của Ta. Trong tương lai, ông ấy cũng sẽ hộ trì Pháp tạng của chư Phật và giáo hóa thành tựu chư Bồ-tát. Do bổn nguyện như vậy nên mới được thọ ký này.”

Khi Tôn giả Khánh Hỷ tự nghe về sự thọ ký với quốc độ trang nghiêm ở trước Phật, thì sở nguyện đầy đủ, tâm sanh đại hoan hỷ, và được điều chưa từng có. Ngài lập tức nhớ niệm Pháp tạng của vô lượng ngàn vạn ức chư Phật quá khứ, thông đạt vô ngại như mới vừa nghe hôm nay, và cũng nhớ lại bổn nguyện xưa.

Lúc bấy giờ ngài Khánh Hỷ nói kệ rằng:

“Thế Tôn hiếm có thay
Khiến con nhớ quá khứ
Vô lượng chư Phật Pháp
Như mới nghe hôm nay

Con nay chẳng còn nghi
An trụ nơi Phật Đạo
Phương tiện làm thị giả
Hộ trì chư Phật Pháp”

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Phú Chướng:

“Vào đời vị lai ông sẽ thành Phật, hiệu là Đạo Thất Bảo Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Ông sẽ cúng dường chư Phật Như Lai nhiều như số vi trần ở các thế giới trong mười phương và luôn làm trưởng tử của chư Phật như là hiện nay vậy.

Quốc độ trang nghiêm của Đức Phật Đạo Thất Bảo Hoa, số kiếp của thọ mạng, số lượng đệ tử giáo hóa, thời gian Chánh Pháp và Tượng Pháp cũng như Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng sẽ làm con trưởng của Đức Phật ấy và sau đó sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Khi ta làm thái tử
Con trưởng là Phú Chướng
Ta nay thành Phật Đạo
Thọ Pháp làm Pháp tử

Ở trong đời vị lai
Thấy vô lượng ức Phật
Cũng đều làm con trưởng
Nhất tâm cầu Phật Đạo

Phú Chướng tu mật hạnh
Chỉ Ta mới biết rõ
Hiện làm con trưởng Ta
Để chỉ dẫn chúng sanh

Vô lượng ngàn vạn ức
Công đức chẳng tính xuể
An trụ trong Phật Pháp
Chí cầu Đạo vô thượng”

Khi Thế Tôn thấy tâm ý của 2.000 người thuộc hàng Hữu Học và bậc Vô Học đã nhu nhuyễn, tịch nhiên thanh tịnh, và nhất tâm quán Phật, bấy giờ Phật bảo ngài Khánh Hỷ rằng:

“Ông có thấy 2.000 người thuộc hàng Hữu Học và bậc Vô Học này chăng?”

“Dạ vâng, đã thấy!”

“Này Khánh Hỷ! Các người họ sẽ cúng dường chư Phật Như Lai nhiều bằng số vi trần của 50 thế giới, cung kính tôn trọng và hộ trì Pháp tạng. Sau đó, họ sẽ đồng một lúc ở các quốc độ trong mười phương mà được thành Phật và đều đồng một hiệu là Bảo Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thọ mạng sẽ dài một kiếp; còn cõi nước trang nghiêm, số Thanh Văn cùng Bồ-tát, và thời gian Chánh Pháp cùng Tượng Pháp thảy đều đồng nhau.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Hai ngàn Thanh Văn đây
Nay đứng ở trước Ta
Thảy đều được thọ ký
Vị lai sẽ thành Phật

Họ cúng dường chư Phật
Số lượng nói như trên
Hộ trì Phật Pháp tạng
Sau sẽ thành chánh giác

Mỗi ở mười phương cõi
Tất đồng một danh hiệu
Đồng thời ngồi Đạo Tràng
Mà chứng vô thượng trí

Đồng tên là Bảo Tướng
Quốc độ cùng đệ tử
Chánh Pháp và Tượng Pháp
Thảy đều đồng không khác

Họ dùng các thần thông
Độ chúng sanh mười phương
Danh vang bao trùm khắp
Lần lượt vào tịch diệt”

Khi 2.000 người thuộc hàng Hữu Học và bậc Vô Học nghe Phật thọ ký, họ vui mừng hớn hở và nói kệ rằng:

“Thế Tôn tuệ đăng minh
Con nghe tiếng thọ ký
Lòng hoan hỷ sung mãn
Như được rưới cam lộ”

♦ PHẨM 10: PHÁP SƯ

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo với 80.000 vị Đại Sĩ qua lời dạy cho Dược Vương Bồ-tát rằng:

“Này Dược Vương! Ông thấy trong đại chúng đây, gồm có vô lượng chư thiên, long vương, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân, chư vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, người cầu Quả Thanh Văn, người cầu Đạo Độc Giác, và người cầu Phật Đạo chăng? Các hàng chúng sanh như thế đều đang ở trước Phật đây, họ nghe được một bài kệ hay một câu trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cho đến chỉ một niệm tùy hỷ, Ta đều thọ ký cho họ sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

Phật bảo ngài Dược Vương:

“Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ, nếu có ai nghe Kinh Pháp Hoa, cho đến chỉ một bài kệ, hoặc một câu, hay một niệm tùy hỷ, Ta cũng thọ ký cho họ sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nếu lại có người thọ trì đọc tụng, thuyết giảng hay biên chép Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dù chỉ một bài kệ trong Kinh này mà họ kính trọng và xem như Phật, hoặc lấy muôn loại hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng che, tràng phan, y phục, và âm nhạc để làm cúng dường, hay cho đến chỉ chắp tay cung kính.

Này Dược Vương! Ông phải biết các người đó đã từng cúng dường 100.000 ức chư Phật và ở nơi của chư Phật đã thành tựu đại nguyện. Họ vì thương xót chúng sanh nên mới sanh ở chốn nhân gian.

Này Dược Vương! Nếu có ai hỏi ông, hàng chúng sanh nào vào đời vị lai sẽ thành Phật? Ông nên chỉ họ rằng, các hạng người như thế tất sẽ thành Phật trong đời vị lai.

Vì sao thế? Bởi nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào, dù chỉ thọ trì đọc tụng, thuyết giảng hay biên chép một câu trong Kinh Pháp Hoa; hoặc lấy muôn loại hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng che, tràng phan, y phục, và âm nhạc để cúng dường Kinh này, hay chỉ chắp tay cung kính, thì hết thảy thế gian đều nên chiêm ngưỡng, đảnh lễ, phụng sự, và đáng dùng sự cúng dường như Phật để cúng dường người ấy.

Ông phải biết người đó là đại Bồ-tát và đã thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Họ vì thương xót chúng sanh nên mới nguyện sanh ở thế gian này để rộng diễn giải và phân biệt Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Huống nữa là người có thể thọ trì trọn vẹn và làm muôn sự cúng dường.

Này Dược Vương! Ông phải biết người ấy đã xả bỏ nghiệp báo thanh tịnh của riêng họ. Sau khi Ta diệt độ, họ vì từ mẫn chúng sanh nên mới sanh vào đời ác để rộng diễn nói Kinh này.

Sau khi Ta diệt độ, nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhân đó có thể chỉ vì một người mà thuyết giảng Kinh Pháp Hoa, cho đến chỉ một câu, thì phải biết người ấy tức là sứ giả của Như Lai. Họ do Như Lai sai đến để làm việc của Như Lai. Hà huống là ở giữa đại chúng, người đó rộng thuyết giảng cho mọi người.

Này Dược Vương! Nếu có kẻ ác nào với tâm bất thiện, họ xuất hiện ở trước Phật và luôn hủy mạ Phật suốt trong một kiếp, thì tội đó vẫn còn nhẹ nếu so với tội hủy báng và chê bai người tại gia cùng hàng xuất gia đọc tụng Kinh Pháp Hoa. Tội này rất thâm trọng.

Này Dược Vương! Những ai đọc tụng Kinh Pháp Hoa, ông phải biết họ dùng sự trang nghiêm của Phật mà trang nghiêm cho chính mình. Người ấy có thể gánh vác trên vai những việc của Như Lai. Bất kỳ đến nơi nào, họ sẽ được hoan nghênh và lễ kính. Mọi người phải nhất tâm chắp tay, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, và dùng hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng che, tràng phan, y phục, thức ăn ngon lạ, và trỗi các loại âm nhạc để cúng dường. Chư thiên nên lấy châu báu cõi trời mà rải lên người ấy, và nên lấy các phẩm vật báu trên cõi trời mà phụng hiến cho họ.

Vì sao thế? Bởi khi người này hoan hỷ thuyết Pháp, những ai chỉ thoáng nghe được thì sẽ liền đạt tới cứu cánh Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nếu muốn trụ Phật Đạo
Thành tựu trí tự nhiên
Phải luôn siêng cúng dường
Người thọ trì Pháp Hoa

Giả như họ muốn mau
Đắc Nhất Thiết Chủng Trí
Nên thọ trì Kinh này
Và cúng dường người trì

Nếu ai khéo thọ trì
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Phải biết Phật sai đến
Từ mẫn nhớ chúng sanh

Những ai khéo thọ trì
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Rời tịnh độ sanh đây
Là bởi thương hữu tình

Phải biết người như thế
Tự tại nơi muốn sanh
Khéo ở đời trược ác
Rộng nói Pháp vô thượng

Phải dùng hương hoa trời
Y phục báu cõi trời
Cùng diệu bảo cõi trời
Cúng dường người thuyết Pháp

Đời ác khi Ta diệt
Ai khéo trì Kinh này
Phải chắp tay lễ kính
Như cúng dường Thế Tôn

Thức ăn thơm ngon ngọt
Cùng muôn loại y phục
Cúng dường Phật tử này
Mong cầu thoáng được nghe

Nếu ai vào đời sau
Có thể trì Kinh này
Là do Ta phái đến
Làm việc của Như Lai

Nếu ở trong một kiếp
Lòng luôn nhớ bất thiện
Cau có mắng chửi Phật
Thọ vô lượng trọng tội

Nếu có người đọc tụng
Thọ trì Kinh Pháp Hoa
Lời ác chỉ một thoáng
Tội này còn hơn kia

Có ai cầu Phật Đạo
Mà ở trong một kiếp
Chắp tay ở trước Ta
Dùng vô số kệ tán

Do bởi tán thán Phật
Được vô lượng công đức
Ai khen người trì Kinh
Phước còn hơn người kia

Suốt tám mươi ức kiếp
Dùng tối diệu sắc thanh
Cùng với hương vị xúc
Cúng dường người trì Kinh

Đã cúng dường như thế
Nếu nghe chừng một thoáng
Nên liền tự vui mừng
‘Ta nay được lợi lớn’

Dược Vương nay Ta bảo
Các Kinh do Ta nói
Ở trong các Kinh đó
Pháp Hoa tối đệ nhất”

Lúc bấy giờ Đức Phật lại bảo Dược Vương Đại Bồ-tát rằng:

“Kinh điển do Ta thuyết thì nhiều vô lượng ngàn vạn ức, hoặc đã nói, đang nói, hay sẽ nói. Ở trong các Kinh đó, Kinh Pháp Hoa này là khó tin và khó giải nhất.

Này Dược Vương! Kinh này là tạng bí yếu của chư Phật, đừng lưu truyền như một cách thông thường hoặc truyền sai lạc cho người tu. Đó là vì từ xưa đến nay, Kinh này được chư Phật Thế Tôn thủ hộ và chưa từng thuyết giảng tường tận. Ngay khi Như Lai còn tại thế mà đã có biết bao người oán hận và ganh ghét Kinh này, huống nữa là sau khi Ta diệt độ.

Này Dược Vương! Ông phải biết sau khi Như Lai diệt độ, những ai có thể biên chép, cúng dường, thọ trì đọc tụng, và vì người khác thuyết giảng, Như Lai sẽ lấy y choàng lên người ấy. Họ lại được chư Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm. Người đó có đại tín lực, chí nguyện lực, và các thiện căn lực. Ông phải biết người ấy đã cùng trú một nơi với Như Lai và đã được Như Lai lấy tay xoa đỉnh đầu.

Này Dược Vương! Ở bất kỳ nơi nào mà có Kinh này thuyết giảng, đọc tụng, hay biên chép, thì họ đều nên xây tháp bảy báu cao to, rộng lớn, và trang trí trang nghiêm. Tháp đó không cần phải an trí xá-lợi.

Vì sao thế? Bởi ở trong ấy đã có toàn thân của Như Lai. Họ nên dùng hết thảy hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, lọng che tràng phan, cùng âm nhạc ca vịnh để cúng dường cung kính và tôn trọng tán thán tháp đó. Nếu có ai thấy được tháp đó, rồi lễ bái cúng dường, thì phải biết những người như thế đều rất gần với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này Dược Vương! Chúng tại gia và hàng xuất gia tu hành Đạo Bồ-tát, như chẳng thể thấy nghe cùng thọ trì đọc tụng, hoặc chẳng thể biên chép hay cúng dường Kinh Pháp Hoa này, thì phải biết người ấy vẫn chưa khéo tu hành Đạo Bồ-tát. Nếu có ai nghe được Kinh điển này, họ sẽ có thể khéo tu hành Đạo Bồ-tát. Nếu có chúng sanh nào cầu Phật Đạo mà thấy hoặc nghe Kinh Pháp Hoa này, khi nghe rồi, họ tín giải thọ trì, thì phải biết người đó rất gần với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này Dược Vương! Đây ví như có người khát nước và cần nước uống. Trên vùng cao nguyên kia, họ đào xuống đất để tìm nước, nhưng chỉ thấy đất khô nên biết rằng nước vẫn còn xa. Sau đó, người ấy không ngừng bỏ thêm công sức. Tiếp đó, họ thấy đất ướt, rồi lần lần đến đất bùn, nên trong lòng biết chắc rằng nước rất gần ở đâu đây.

Bồ-tát cũng lại như vậy. Những ai chưa nghe, chưa hiểu, hoặc chưa có thể tu tập Kinh Pháp Hoa này, thì biết rằng họ đang cách rất xa Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Còn những ai đã nghe, đã hiểu, và đã tư duy cùng tu tập, thì biết chắc rằng họ đang gần kề Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vì sao thế? Bởi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của tất cả Bồ-tát đều thuộc về Kinh này. Kinh này khai mở cửa phương tiện và hiển thị tướng chân thật. Bảo tạng của Kinh Pháp Hoa này rất thâm sâu, kiên cố, ẩn kín, và xa thẳm. Không một ai có thể đến, chỉ trừ hôm nay Ta vì muốn giáo hóa thành tựu chư Bồ-tát nên mới khai thị.

Này Dược Vương! Nếu có Bồ-tát nào nghe Kinh Pháp Hoa này mà kinh hãi, hoài nghi, hay hoảng sợ, thì phải biết vị này là sơ phát tâm Bồ-tát. Nếu hàng Thanh Văn nghe Kinh này mà kinh hãi, hoài nghi, hay hoảng sợ, thì phải biết họ là tăng thượng mạn.

Này Dược Vương! Sau khi Như Lai diệt độ, như có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn thuyết Kinh Pháp Hoa này cho bốn chúng đệ tử, thì phải thuyết giảng thế nào? Các thiện nam tử và thiện nữ nhân đó nên vào nhà của Như Lai, mặc áo của Như Lai, và ngồi tòa của Như Lai, rồi sau đó mới rộng giảng Kinh này cho bốn chúng đệ tử.

– Nhà của Như Lai tức là tâm đại từ bi đối với hết thảy chúng sanh.
– Áo của Như Lai tức là tâm nhu hòa nhẫn nhục.
– Tòa của Như Lai tức là tất cả pháp không.

Khi đã an trụ trong ấy, rồi sau đó mới dùng tâm không biếng lười mà rộng giảng Kinh Pháp Hoa này cho chư Bồ-tát cùng bốn chúng đệ tử.

Này Dược Vương! Lúc ấy ở quốc độ khác, Ta sẽ sai người biến hóa đến tụ tập làm thính chúng nghe Pháp. Ta cũng sai hóa Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, và Thanh Tín Nữ để đến nghe Pháp. Khi những người biến hóa này nghe Pháp, họ sẽ tín thọ và tùy thuận chẳng nghịch.

Nếu có người thuyết Pháp tại một nơi vắng vẻ, khi đó Ta sẽ sai rất nhiều thiên long quỷ thần, tầm hương thần, phi thiên và những loài khác để đến nghe họ thuyết Pháp. Tuy Ta ở quốc độ khác, nhưng Ta sẽ khiến những ai thuyết Pháp, ở mọi lúc luôn thấy được thân của Ta. Nếu họ đọc quên một câu, Ta sẽ nhắc lại để cho được đầy đủ.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ai muốn dứt lười biếng
Hãy nên nghe Kinh này
Kinh này khó được nghe
Lại khó người tín thọ

Như người khát thèm nước
Đào giếng vùng cao nguyên
Chỉ thấy đất khô cằn
Biết cách nước còn xa
Khi thấy đất bùn ướt
Hẳn biết nước gần đây

Dược Vương ông nên biết
Những ai mà như thế
Chẳng nghe Kinh Pháp Hoa
Cách Phật trí xa xăm

Ai nghe Kinh báu này
Liễu thông Pháp Thanh Văn
Là vua của các Kinh
Nghe rồi tư duy kỹ
Phải biết người như thế
Gần kề trí của Phật

Nếu ai giảng Kinh này
Nên vào nhà Như Lai
Mặc áo của Như Lai
Rồi ngồi tòa Như Lai
Nơi đại chúng chẳng sợ
Rộng vì họ phân biệt

Đại từ bi là nhà
Áo nhu hòa nhẫn nhục
Các pháp không, là tòa
Trụ như thế thuyết Pháp

Khi ai giảng Kinh này
Có kẻ, ác khẩu chửi
Dùng dao gậy ngói đá
Vì niệm Phật hãy nhẫn

Trong ngàn vạn ức độ
Hiện thân kiên cố tịnh
Ở vô lượng ức kiếp
Thuyết Pháp cho chúng sanh

Sau khi Ta diệt độ
Ai khéo giảng Kinh này
Ta sai hóa bốn chúng
Bhikṣu Bhikṣuṇī
Cùng thiện nam tín nữ
Cúng dường vị Pháp sư
Dẫn đạo các chúng sanh
Đến tụ tập nghe Pháp

Nếu ai muốn làm hại
Ngói đá cùng dao gậy
Ta sai người biến hóa
Đến hộ vệ người ấy

Nếu ai thuyết Pháp này
Một mình nơi vắng vẻ
Tĩnh mịch không tiếng người
Đọc tụng Kinh điển này
Bấy giờ Ta liền hiện
Thanh tịnh quang minh thân

Như quên một chương cú
Nhắc lại khiến thông thạo
Nếu bậc đức độ này
Hoặc giảng cho bốn chúng
Hay nơi vắng tụng Kinh
Đều sẽ thấy thân Ta

Nếu họ ở hoang vu
Ta sai hàng trời rồng
Quỷ thần, quỷ tiệp tật
Làm thính chúng nghe Pháp

Người này vui thuyết Pháp
Phân biệt không ngăn ngại
Do chư Phật hộ niệm
Khéo làm đại chúng vui

Ai thân cận Pháp sư
Mau đắc Đạo Bồ-tát
Theo học Pháp sư này
Thấy được Hằng sa Phật”

♦ PHẨM 11: THẤY THÁP BÁU

Lúc bấy giờ ở trước Phật có một tháp bảy báu với chiều cao 500 yojana [dô cha na] và rộng 250 yojana. Tháp báu từ dưới đất vọt ra, trụ ở không trung và được trang trí với muôn loại vật báu. Có 5.000 lan can, 1.000 khám thất, và vô số tràng phan dùng để trang nghiêm. Có dây tua, xâu chuỗi anh lạc báu và 10.000 chuông báu treo ở trên đó. Ở bốn cạnh đều thổi ra hương đàn hoắc diệp và mùi thơm đó lan tỏa khắp thế giới. Những tràng phan và lọng che của tháp ấy làm bằng bảy báu, nào là: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, với mai côi cộng hợp thành, và cao đến tận cung điện của Bốn Vị Thiên Vương.

Có thiên hoa từ trời Tam Thập Tam mưa xuống để cúng dường tháp báu. Những thiên chúng khác, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân, ngàn vạn ức chúng sanh như thế, họ dùng muôn thứ hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, tràng phan, lọng che, và âm nhạc để cúng dường tháp báu. Họ cung kính, tôn trọng, và tán thán.

Lúc bấy giờ trong tháp báu vang ra âm thanh lớn và tán thán rằng:

“Lành thay, lành thay! Năng Tịch Thế Tôn có thể với đại trí tuệ bình đẳng mà vì đại chúng thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm.

Như thị, như thị, Năng Tịch Thế Tôn! Lời của Ngài nói đều là chân thật.”

Khi bốn chúng đệ tử thấy tháp báu lớn trụ ở không trung. Lại nghe trong tháp vang ra âm thanh, họ đều được Pháp hỷ và ngạc nhiên chưa từng có. Họ từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay, rồi đứng qua một bên.

Khi ấy có một vị đại Bồ-tát tên là Đại Nhạo Thuyết. Ngài biết trong lòng của hết thảy trời, người, phi thiên, và những loài hữu tình khác trong thế gian, đều có điều nghi.

Thế nên ngài bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp báu này từ dưới đất vọt lên và ở trong đó lại có âm thanh phát ra?”

Lúc bấy giờ Phật bảo Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát:

“Trong tháp báu này có toàn thân của Như Lai. Vào thuở quá khứ vô lượng ngàn vạn ức vô số thế giới về hướng đông, có một quốc độ tên là Bảo Tịnh. Trong cõi nước kia có một Đức Phật, hiệu là Đa Bảo.

Lúc Đức Phật ấy tu hành Đạo Bồ-tát, ngài đã phát đại thệ nguyện rằng:

‘Nếu lúc con thành Phật và sau khi diệt độ, ở bất kỳ cõi nước nào trong mười phương mà có Kinh Pháp Hoa thuyết giảng, vì để nghe Kinh này, ngôi tháp của con sẽ vọt lên và hiện ra trước nơi đó để làm chứng minh và ngợi khen lành thay.’

Sau khi Đức Phật kia đã thành Đạo và lúc sắp diệt độ, Ngài ở giữa đại chúng và hàng trời người mà bảo các vị Bhikṣu rằng:

‘Sau khi Ta diệt độ, những ai muốn cúng dường toàn thân của Ta thì nên xây một ngôi tháp lớn.’

Do thần thông và nguyện lực của Đức Phật ấy, bất cứ nơi nào ở các thế giới trong mười phương mà nếu có người thuyết Kinh Pháp Hoa, thì tháp báu có toàn thân của Đức Phật kia đều sẽ vọt ra ở trước nơi đó và Ngài ở trong tháp ngợi khen rằng:

‘Lành thay, lành thay!’

Này Đại Nhạo Thuyết! Vì Đa Bảo Như Lai nghe có Kinh Pháp Hoa thuyết giảng, nên tháp của Ngài từ dưới đất vọt ra và tán thán rằng:

‘Lành thay, lành thay!'”

Ngay lúc đó, Đại Nhạo Thuyết Bồ-tát nương thần lực của Như Lai và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của Đức Phật đó.”

Phật bảo Đại Nhạo Thuyết Đại Bồ-tát:

“Đức Phật Đa Bảo này đã lập một thệ nguyện thâm trọng rằng:

‘Vì để nghe Kinh Pháp Hoa, tháp của Ta sẽ xuất hiện ở trước chư Phật. Nếu chư Phật muốn thân Ta hiện ra cho bốn chúng đệ tử trông thấy, thì phân thân của Đức Phật kia đang thuyết Pháp ở các thế giới trong mười phương phải toàn bộ tụ lại hết một nơi. Sau đó thân Ta mới xuất hiện.’

Này Đại Nhạo Thuyết! Phân thân của Ta đang ở tại các thế giới trong mười phương để thuyết Pháp và bây giờ sẽ phải nên tụ lại.”

Ngài Đại Nhạo Thuyết thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy phân thân của Thế Tôn để lễ bái và cúng dường.”

Lúc bấy giờ Đức Phật phóng một luồng hào quang từ tướng bạch hào và liền thấy năm triệu ức nayuta Hằng Hà sa quốc độ của chư Phật ở phương đông. Các cõi nước kia đều lấy pha lê làm đất với cây báu và y phục báu dùng để trang nghiêm. Có vô số ngàn vạn ức Bồ-tát đầy khắp trong ấy và có màn che giăng khắp ở trên. Quốc độ của chư Phật kia dùng diệu âm lớn để thuyết các Pháp. Lại cũng thấy vô lượng ngàn vạn ức Bồ-tát biến khắp các cõi nước đó và họ đang thuyết Pháp cho đại chúng. Ánh sáng từ tướng bạch hào chiếu đến các quốc độ ở tây nam bắc phương, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới cũng lại như vậy.

Lúc bấy giờ, mỗi chư Phật đang ở khắp mười phương đều bảo chúng hội Bồ-tát rằng:

“Thiện nam tử! Bây giờ Ta phải đến chỗ của Đức Phật Năng Tịch ở Thế giới Kham Nhẫn và cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai.”

Khi ấy Thế giới Kham Nhẫn liền trở nên thanh tịnh, đất làm bằng lưu ly và trang nghiêm với những cây báu. Ở tám con đường được phân ra với sợi dây hoàng kim. Không có những thôn xóm, làng mạc, thành thị, biển cả, sông hồ, dòng nước, hay núi non. Các nén hương quý được đốt lên và hoa vi diệu âm trải khắp trên mặt đất. Bên trên được phủ trùm bởi lưới báu và màn che với những chuông báu gắn trên ấy. Duy chỉ có đại chúng trong Pháp hội này ở lại, còn chư thiên và loài người được dời đến cõi nước khác.

Ngay lúc đó, mỗi chư Phật dẫn theo một vị đại Bồ-tát để làm thị giả và đi đến dưới cây báu ở Thế giới Kham Nhẫn. Mỗi cây báu cao 500 yojana, với nhánh lá hoa quả đều theo thứ tự trang nghiêm. Ở dưới các cây báu đều có một tòa sư tử, cao năm yojana và cũng được trang trí với những châu báu lớn.

Lúc bấy giờ, mỗi chư Phật đều ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen ở trên các tòa sư tử đó. Triển chuyển như thế cho đến đầy khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Thế nhưng phân thân của Đức Phật Năng Tịch, dù ở trong một phương vẫn còn chưa hết.

Khi ấy, Đức Phật Năng Tịch vì muốn dung thọ phân thân của chư Phật, nên ở mỗi phương của tám hướng biến hóa thêm hai triệu ức nayuta quốc độ. Hết thảy đều thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, hay phi thiên. Còn hàng trời người thì được dời đến cõi nước khác. Các quốc độ do Phật biến hóa cũng đều dùng lưu ly làm đất với những cây báu trang nghiêm. Cây cao 500 yojana, với nhánh lá hoa quả đều theo thứ tự trang nghiêm. Ở dưới cây đều có một tòa báu sư tử, cao năm yojana và được trang trí với đủ mọi châu báu. Cũng không có biển cả, sông hồ, Thạch Sơn, Đại Thạch Sơn, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Diệu Cao hay các vua núi nào khác. Hết thảy đều làm thành một Phật độ. Đất báu bằng phẳng. Phủ trùm trên đó là các màn báu và tràng phan. Những nén hương quý được đốt lên và các hoa báu cõi trời trải khắp trên mặt đất.

Vì để chư Phật đang đến sẽ có chỗ ngồi, nên ở mỗi phương của tám hướng, Đức Phật Năng Tịch lại biến hóa thêm hai triệu ức nayuta quốc độ. Hết thảy đều thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, và phi phiên. Còn hàng trời người thì được dời đến cõi nước khác. Các quốc độ do Phật biến hóa cũng đều dùng lưu ly làm đất với những cây báu trang nghiêm. Cây cao 500 yojana, với nhánh lá hoa quả đều theo thứ tự trang nghiêm. Ở dưới mỗi cây đều có một tòa báu sư tử, cao năm yojana và được trang trí với đủ mọi châu báu. Cũng không có biển cả, sông hồ, Thạch Sơn, Đại Thạch Sơn, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Diệu Cao hay các vua núi nào khác. Hết thảy đều làm thành một Phật độ. Đất báu bằng phẳng. Phủ trùm trên đó là các màn báu, tràng phan, và lọng che. Những nén hương quý được đốt lên và các hoa báu cõi trời trải khắp trên mặt đất.

Lúc bấy giờ, phân thân của Đức Phật Năng Tịch từ tỷ ức nayuta Hằng Hà sa quốc độ của chư Phật ở phương đông, mỗi vị đều thuyết Pháp và cùng đến hội họp nơi đây. Thứ tự như vậy, chư Phật trong mười phương thảy đều đến hội họp và ngồi ở tám hướng.

Khi ấy, mỗi phương có dày khắp chư Phật Như Lai đã đến từ bốn triệu ức nayuta quốc độ. Lúc đó, mỗi chư Phật đều ngồi trên tòa sư tử ở dưới cây báu. Rồi mỗi vị đều sai thị giả đến thăm hỏi Đức Phật Năng Tịch.

Chư Phật trao cho mỗi thị giả một giỏ hoa báu tràn đầy và bảo họ rằng:

“Thiện nam tử! Ông hãy đi đến chỗ của Đức Phật Năng Tịch ở núi Thứu Phong.

Rồi chuyển lời của Ta như sau:

‘Thế Tôn không có bệnh và không có phiền não chứ? Sức khỏe có an lạc chăng? Chư Bồ-tát và hàng Thanh Văn thánh chúng có an ổn chăng?’

Sau đó, ông hãy rải hoa báu này để cúng dường và thưa hỏi như vầy:

‘Đức Phật ở quốc độ ấy muốn mở tháp báu này.'”

Tất cả chư Phật đều sai thị giả đến vấn an cũng lại như thế.

Khi Đức Phật Năng Tịch thấy phân thân của chư Phật đã đến hội họp đầy đủ, cũng như thấy mỗi vị đều đã ngồi trên tòa sư tử, và đều nghe chư Phật đồng muốn mở tháp báu, Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy và bay lên trụ giữa hư không. Hết thảy bốn chúng đệ tử đều đứng dậy, rồi chắp tay và nhất tâm quán Phật.

Tiếp đó, Đức Phật Năng Tịch dùng ngón tay trỏ bên phải để mở cửa tháp bảy báu. Ngay lúc ấy, cửa tháp vang ra một tiếng lớn. Đây ví như âm thanh của cái chốt khóa nơi cổng đại thành được rút ra.

Lập tức, tất cả đại chúng trong Pháp hội đều thấy Đa Bảo Như Lai đang ngồi trên tòa sư tử ở trong tháp báu. Toàn thân của Ngài chẳng hư hoại và y như nhập thiền định.

Lại cũng nghe Ngài nói rằng:

“Lành thay, lành thay, Năng Tịch Thế Tôn! Ngài hãy mau thuyết Kinh Pháp Hoa. Tôi đến đây là vì để nghe Kinh này.”

Khi bốn chúng đệ tử thấy Đức Phật kia, tuy đã diệt độ từ vô lượng ngàn vạn ức kiếp xa xưa thuở quá khứ, nhưng lại nói lời như thế, họ tán thán là việc chưa từng có. Rồi họ rải muôn hoa báu cõi trời lên Đức Phật Đa Bảo cùng Đức Phật Năng Tịch.

Lúc bấy giờ, Đức Phật Đa Bảo ở trong tháp báu chia nửa chỗ ngồi cho Đức Phật Năng Tịch mà nói lời như vầy:

“Năng Tịch Thế Tôn! Xin hãy ngồi ở Pháp tòa này!”

Khi đó, Đức Phật Năng Tịch liền đi vào trong tháp và ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen ở trên nửa Pháp tòa đó.

Lúc bấy giờ, đại chúng thấy hai vị Như Lai đang ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen trên tòa sư tử ở trong tháp bảy báu, rồi ai nấy đều nghĩ như vầy:

“Pháp tòa của Phật cao vút. Kính mong Như Lai hãy dùng sức thần thông để khiến chúng con đồng trú trong hư không.”

Ngay lập tức, Đức Phật Năng Tịch dùng sức thần thông và đưa toàn thể đại chúng lên hư không.

Rồi với âm thanh lớn, Ngài bảo toàn thể bốn chúng đệ tử rằng:

“Những ai có thể rộng giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở Thế giới Kham Nhẫn thì hãy phát thệ nguyện. Nay chính là lúc. Chẳng bao lâu nữa Như Lai sẽ vào tịch diệt. Ta muốn phó chúc Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Thánh Chủ Phật Thế Tôn
Tuy diệt độ đã lâu
Ở trong tháp báu này
Vì Pháp đến nơi đây

Vì cớ sao người đời
Chẳng siêng cầu Pháp này?

Khi Phật đó diệt độ
Trải qua vô số kiếp
Ở mọi nơi nghe Pháp
Bởi Pháp này khó gặp

Phật đó xưa nguyện rằng
‘Sau khi Ta diệt độ
Sẽ đi đến khắp nơi
Để luôn nghe Pháp này’

Phân thân của Như Lai
Vô lượng số chư Phật
Nhiều như cát sông Hằng
Muốn đến nghe Pháp này
Cùng thấy Phật diệt độ
Đức Đa Bảo Như Lai

Mỗi vị rời tịnh độ
Cùng với chúng đệ tử
Hàng trời người long thần
Và các sự cúng dường
Vì muốn Pháp cửu trụ
Nên mới đến nơi đây

Vì an tọa chư Phật
Ta dùng sức thần thông
Dời đi vô lượng chúng
Khiến quốc độ thanh tịnh

Từng mỗi chư Phật đó
Đến ngồi dưới cây báu
Ví như ao hoa sen
Thanh tịnh diệu trang nghiêm

Dưới những cây báu kia
Có các tòa sư tử
Chư Phật ngồi trên ấy
Ánh quang minh trang nghiêm
Ví như bó đuốc lớn
Cháy sáng giữa đêm tối

Thân tỏa ra diệu hương
Lan khắp mười phương cõi
Xông tất cả chúng sanh
Làm họ vui khôn xiết

Ví như ngọn gió lớn
Thổi lay nhánh cây nhỏ
Với môn phương tiện này
Khiến Chánh Pháp cửu trụ

Ta bảo các đại chúng
‘Sau khi Ta diệt độ
Ai có thể hộ trì
Đọc tụng giảng Kinh này
Nay ở trước chư Phật
Hãy nên phát thệ nguyện’

Đức Phật Đa Bảo kia
Tuy diệt độ đã lâu
Nhưng bởi đại thệ nguyện
Ngài hống tiếng sư tử

Đức Đa Bảo Như Lai
Cùng với thân của Ta
Và hóa Phật tụ hội
Sẽ biết ý nguyện đó

Này các hàng Phật tử
Ai có thể hộ Pháp
Thì nên phát đại nguyện
Khiến Pháp trụ lâu dài

Người nào mà có thể
Hộ trì Kinh Pháp này
Cũng tức là cúng dường
Phật Đa Bảo cùng Ta

Đức Phật Đa Bảo đó
An trụ trong tháp báu
Luôn du hành mười phương
Là vì bởi Kinh này

Họ cũng lại cúng dường
Chư hóa Phật đã đến
Bậc quang minh trang nghiêm
Của tất cả thế giới

Nếu ai giảng Kinh này
Họ liền sẽ thấy Ta
Và Đa Bảo Như Lai
Cùng với chư hóa Phật

Này các thiện nam tử
Các ông tư duy kỹ
Đây là việc khó khăn
Cần phải phát đại nguyện

Tất cả Kinh điển khác
Số như cát sông Hằng
Dù thuyết giảng hết chúng
Đó vẫn chưa là khó

Nếu bốc núi Diệu Cao
Ném vứt đến phương khác
Qua vô số cõi Phật
Cũng vẫn chưa là khó

Nếu dùng một ngón chân
Hất cả Đại Thiên Giới
Quăng xa đến cõi khác
Cũng vẫn chưa là khó

Tại trời Sắc Cứu Cánh
Vì chúng khai diễn nói
Vô lượng Kinh điển khác
Cũng vẫn chưa là khó

Nếu sau khi Phật tịch
Ở trong đời ác trược
Có thể giảng Kinh này
Đây mới thật là khó

Giả sử nếu có người
Dùng tay nắm hư không
Mà du hành đây đó
Cũng vẫn chưa là khó

Sau khi Ta diệt độ
Nếu ai tự biên chép
Hoặc bảo người biên chép
Đây mới thật là khó

Giả sử bỏ đại địa
Đặt nó lên móng chân
Bay lên đến Phạm Thiên
Cũng vẫn chưa là khó

Sau khi Phật diệt độ
Ở trong đời ác trược
Thoáng đọc tụng Kinh này
Đây mới thật là khó

Giả sử đến kiếp lửa
Gánh mang bó cỏ khô
Đi vào trong không cháy
Cũng vẫn chưa là khó

Sau khi Ta diệt độ
Nếu trì tụng Kinh này
Dù giảng cho một người
Đây mới thật là khó

Nếu có ai thọ trì
Tám bốn ngàn Pháp tạng
Mười Hai Phần Giáo Pháp
Vì người khác diễn nói
Khiến cho các thính giả
Đắc sáu loại thần thông
Tuy có thể như thế
Cũng vẫn chưa là khó

Sau khi Ta diệt độ
Nghe thọ trì Kinh này
Tư duy nghĩa thú đó
Đây mới thật là khó

Nếu có người thuyết Pháp
Khiến cho ngàn vạn ức
Vô lượng vô số kể
Hằng Hà sa chúng sanh
Chứng đắc Đạo Ứng Chân
Đầy đủ Sáu Thần Thông
Mặc dù có lợi ích
Cũng vẫn chưa là khó

Sau khi Ta diệt độ
Nếu có thể phụng trì
Như là Kinh điển này
Đây mới thật là khó

Như Lai vì Phật Đạo
Trong vô lượng quốc độ
Từ xa xưa đến nay
Rộng nói các Kinh điển
Và ở trong số ấy
Kinh này là đệ nhất
Như ai có thể trì
Tức là trì thân Phật

Này các thiện nam tử
Sau khi Ta diệt độ
Ai có thể thọ trì
Đọc tụng giảng Kinh này
Nay ở trước chư Phật
Hãy nên phát thệ nguyện

Kinh này khó thọ trì
Nếu có ai tạm trì
Ta sẽ liền hoan hỷ
Và chư Phật cũng vậy

Những người như thế ấy
Được chư Phật ngợi khen
Đây tức là dũng mãnh
Đây chính là tinh tấn
Đây gọi là trì giới

Nếu ai tu khổ hạnh
Họ liền sẽ rất mau
Đắc Phật Đạo vô thượng
Khéo ở đời vị lai
Đọc tụng trì Kinh này
Là Phật tử chân chánh
Trụ ở địa thuần thiện

Sau khi Phật diệt độ
Ai khéo giải nghĩa đó
Họ sẽ là con mắt
Của trời người thế gian

Trong đời lắm kinh hãi
Dù ai chỉ thoáng giảng
Hết thảy hàng trời người
Đều phải nên cúng dường”

♦ PHẨM 12: BHIKṢU THIÊN NHIỆT

Lúc bấy giờ Phật bảo chư Bồ-tát cùng trời người và bốn chúng đệ tử:

“Vào thuở quá khứ trong vô lượng kiếp, ta vì cầu Kinh Pháp Hoa mà chưa hề lười biếng hay mỏi mệt. Ở trong nhiều kiếp, ta thường làm vua, phát nguyện để cầu Đạo vô thượng, và tâm không thoái chuyển. Vì muốn viên mãn Sáu Độ, ta siêng tu hành bố thí. Đối với voi ngựa, vật bảy báu, quốc gia thành trì, vợ con, nô tỳ tôi tớ, đầu mắt xương não, thân thể tay chân, và dù cả tánh mạng, lòng ta không hề luyến tiếc.

Dân chúng vào thời bấy giờ có thọ mạng vô lượng. Vì cầu Pháp, ta đã xả bỏ vương vị và ủy thác quốc gia cho chánh thái tử.

Ta đánh trống và tuyên cáo việc cầu Pháp đến khắp bốn phương:

‘Nếu ai có thể vì ta mà thuyết giảng Đại Thừa, ta sẽ suốt đời cung cấp mọi thứ và tùy ý sai khiến.’

Lúc ấy có vị tiên nhân đến tâu với ta rằng:

‘Thần có một Kinh điển Đại Thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu ngài không làm trái ý, thần sẽ tuyên giảng cho ngài.’

Khi nghe vị tiên nhân đó nói, ta vui mừng hớn hở và liền đi theo ngài. Ta cung cấp mọi thứ cần thiết, như là hái trái cây, gánh nước, đốn củi, và trông lo cơm nước. Thậm chí ta dùng cả thân thể để làm ghế ngồi cho ngài mà thân tâm ta chẳng hề mỏi mệt. Thuở đó, ta vì cầu Pháp mà đã phụng sự như thế suốt 1.000 năm, hết lòng hầu hạ, cung cấp mọi thứ và đều không để thiếu hụt.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nhớ vào kiếp quá khứ
Ta vì cầu đại Pháp
Tuy làm thân quốc vương
Chẳng tham muốn năm dục

Đánh chuông cáo khắp nơi
Nếu ai có đại Pháp
Vì ta mà giảng giải
Thân đây làm nô bộc

Có Tiên nhân Vô Tỉ
Đến tâu với đại vương

‘Thần có Pháp vi diệu
Hiếm hoi nhất thế gian
Nếu ngài có thể tu
Thần sẽ giảng cho ngài’

Khi nghe tiên nhân nói
Lòng ta vui vô cùng
Liền đi theo tiên nhân
Cung cấp đủ mọi thứ
Đốn củi hái rau quả
Tùy thời cung kính ngài

Do trân quý diệu Pháp
Thân tâm không mệt mỏi
Rộng vì các chúng sanh
Ta siêng cầu đại Pháp
Cũng chẳng vì thân này
Mà tham muốn năm dục

Ta làm đại quốc vương
Chí cầu mong Pháp này
Tất sẽ được thành Phật
Nay giảng cho các ông”

Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Vị quốc vương thuở đó chính là tiền thân Ta đây. Còn vị tiên nhân lúc ấy, nay chính là Thiên Nhiệt. Do có Thiên Nhiệt làm Thiện Tri Thức, nên Ta mới đầy đủ Sáu Độ, Từ Bi Hỷ Xả, 32 tướng hảo, 80 vẻ đẹp, thân màu vàng tím, Mười Lực, Bốn Vô Sở Úy, Bốn Nhiếp Pháp, 18 Pháp Bất Cộng, thần thông Đạo lực, thành Chánh Đẳng Chánh Giác, và rộng độ chúng sanh. Đây đều là do có Thiên Nhiệt làm Thiện Tri Thức.”

Phật bảo bốn chúng đệ tử:

“Ở vô lượng kiếp về sau, Bhikṣu Thiên Nhiệt sẽ thành Phật, hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Quốc độ tên là Thiên Đạo.

Đức Phật Thiên Vương sẽ trụ thế 20 trung kiếp và rộng thuyết giảng diệu Pháp cho chúng sanh. Số chúng sanh đắc Đạo Ứng Chân thì nhiều như cát sông Hằng. Vô lượng chúng sanh sẽ phát tâm Duyên Giác. Hằng Hà sa chúng sanh sẽ phát khởi Đạo tâm vô thượng, đắc Vô Sanh Nhẫn, và cho đến được không thoái chuyển.

Sau khi Đức Phật Thiên Vương vào Cứu Cánh Tịch Diệt, thời gian Chánh Pháp trụ thế là 20 trung kiếp. Khi ấy, bốn chúng đệ tử sẽ xây tháp bảy báu để phụng thờ toàn thân xá lợi, với chiều cao là 60 yojana và rộng là 40 yojana. Hàng trời người sẽ lễ bái và cúng dường tháp bảy báu vi diệu đó với các loại hoa khác nhau, hương bột, hương đốt, hương xoa, y phục, xâu chuỗi anh lạc, tràng phan, lọng báu, và âm nhạc ca vịnh. Vô lượng chúng sanh sẽ đắc Đạo Ứng Chân. Vô lượng chúng sanh sẽ đắc Đạo Độc Giác. Có số lượng chúng sanh nhiều chẳng thể nghĩ bàn sẽ phát khởi Đạo tâm và cho đến được không thoái chuyển.”

Phật bảo các vị Bhikṣu rằng:

“Vào đời vị lai, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào nghe về Phẩm Bhikṣu Thiên Nhiệt trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cùng với tín tâm thanh tịnh mà cung kính và không sanh lòng hoài nghi, họ sẽ không đọa địa ngục, ngạ quỷ, hay bàng sanh. Họ luôn sanh ở trước chư Phật trong mười phương. Mọi nơi sanh ra thường được nghe Kinh này. Nếu sanh trong cõi trời hay nhân gian, họ sẽ thọ thưởng an vui thù thắng vi diệu. Nếu sanh ở trước Phật, họ sẽ hóa sanh từ hoa sen.”

Lúc bấy giờ vị Bồ-tát thị giả của Đa Bảo Thế Tôn đã đến từ thế giới phương dưới, tên là Trí Tích, thưa với Đức Phật Đa Bảo rằng:

“[Thưa Thế Tôn!] Xin hãy trở về cõi nước của mình!”

Đức Phật Năng Tịch bảo ngài Trí Tích rằng:

“Thiện nam tử! Hãy chờ thêm một lát thì sẽ có một vị Bồ-tát tên là Diệu Cát Tường. Ông nên gặp và đàm luận diệu Pháp, rồi mới trở về cõi nước của mình.”

Lúc bấy giờ ngài Diệu Cát Tường ngồi trên hoa sen ngàn cánh lớn như bánh xe và cùng chư Bồ-tát đi theo cũng ngồi trên hoa sen báu. Từ cung điện của Hải Long Vương, họ đồng một lúc vọt ra biển lớn và trụ trong hư không, rồi đồng đến núi Thứu Phong. Ngài Diệu Cát Tường bước xuống từ tòa hoa sen và đi đến chỗ của Phật, rồi cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của nhị vị Thế Tôn. Khi đã cung kính xong, ngài đến chỗ của Trí Tích Bồ-tát. Họ cùng thăm hỏi lẫn nhau và ngồi qua một bên.

Trí Tích Bồ-tát hỏi ngài Diệu Cát Tường:

“Khi Nhân Giả đến long cung, có bao nhiêu chúng sanh được ngài giáo hóa?”

Ngài Diệu Cát Tường đáp rằng:

“Số ấy vô lượng, chẳng thể nào tính xuể, không thể diễn nói hết bằng lời hay dùng tâm suy lường. Hãy đợi một lát thì ngài sẽ tự biết.”

Trước khi còn chưa dứt lời, thì liền có vô số Bồ-tát ngồi trên hoa sen báu từ trong biển vọt ra. Họ đi đến núi Thứu Phong và trụ ở hư không. Chư Bồ-tát này đều là do ngài Diệu Cát Tường hóa độ và đầy đủ hạnh Bồ-tát. Họ đều đàm luận Sáu Độ với nhau. Những ai đã từng là Thanh Văn thì ở trong hư không nói về hạnh Thanh Văn. Còn bây giờ, tất cả họ đều tu hành nghĩa lý không của Đại Thừa.

Ngài Diệu Cát Tường nói với Trí Tích Bồ-tát rằng:

“Tôi ở trong biển giáo hóa chúng sanh, việc đó là như vậy.”

Lúc bấy giờ Trí Tích Bồ-tát dùng kệ tán thán rằng:

“Đại trí đức dũng mãnh
Hóa độ vô lượng chúng
Nay ở đại hội này
Tôi cùng họ đều thấy

Diễn sướng nghĩa thật tướng
Khai mở Pháp Nhất Thừa
Rộng dẫn các chúng sanh
Khiến họ mau thành Đạo”

Ngài Diệu Cát Tường nói rằng:

“Khi ở trong biển, tôi chỉ luôn tuyên thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.”

Trí Tích Bồ-tát hỏi ngài Diệu Cát Tường:

“Kinh này vi diệu thâm sâu, quý báu nhất trong các Kinh và thật hy hữu của thế gian. Có chúng sanh nào chuyên cần tinh tấn và tu hành Kinh này mà sẽ mau được thành Phật không?”

Ngài Diệu Cát Tường đáp rằng:

“Có con gái của Hải Long Vương mới chỉ tám tuổi. Cô ta có trí tuệ và căn tánh lanh lợi. Khéo biết các căn tánh cùng hành nghiệp của chúng sanh và đã đắc tổng trì. Các tạng bí mật thâm sâu của chư Phật, long nữ đều có thể thọ trì. Lại vào sâu thiền định và liễu đạt các pháp. Trong một niệm, long nữ đã phát khởi Đạo tâm và được không thoái chuyển. Có biện tài vô ngại, từ mẫn chúng sanh như con ruột, và đầy đủ công đức. Ý nghĩ khởi từ tâm và lời nói phát ra từ miệng rất vi diệu quảng đại. Cô ấy có lòng từ bi, nhân nghĩa, nhường nhịn, tâm ý hòa nhã, và có thể đạt đến Phật Đạo.”

Trí Tích Bồ-tát hỏi rằng:

“Tôi thấy Năng Nhân Như Lai đã ở trong vô lượng kiếp tu hành những khổ hạnh khó làm, tích lũy công đức và cầu Phật Đạo mà chưa từng thôi nghỉ. Tôi quán khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, thậm chí không có nơi nào, dù nhỏ như một hạt cải mà chẳng có thân mạng của Bồ-tát đã xả bỏ vì chúng sanh. Rồi sau đó, ngài mới thành Phật Đạo. Tôi không tin long nữ này lại ở trong thời gian vụt thoáng mà có thể thành chánh giác.”

Giữa lúc đàm luận còn chưa xong, thì con gái của long vương bỗng hốt nhiên xuất hiện ở trước hai vị Bồ-tát. Long nữ cúi đầu đảnh lễ cung kính, rồi đứng qua một bên.

Tiếp đến, long nữ dùng kệ tán thán rằng:

“Khi đã thông đạt tướng tội phước
Liền sẽ chiếu soi khắp mười phương
Vi diệu thù thắng tịnh Pháp thân
Ba hai tướng hảo có đầy đủ
Cùng với tám mươi vẻ đẹp xinh
Mà dùng trang nghiêm diệu Pháp thân

Là bậc chiêm ngưỡng của trời người
Chư long quỷ thần đều cung kính
Tất cả chúng sanh quần manh loại
Không một ai mà chẳng lễ kính

Lại nghe sẽ thành Đạo vô thượng
Chỉ có chư Phật mới biết rõ
Con nay xiển dương Pháp Đại Thừa
Hóa độ giải thoát khổ chúng sanh”

Khi ấy ngài Thu Lộ Tử nói với long nữ rằng:

“Cô nói chẳng bao lâu nữa thì mình sẽ đắc Đạo vô thượng. Việc này thật khó tin.

Vì sao thế? Bởi thân nữ nhơ nhuốc và chẳng phải là Pháp khí. Thế thì làm sao có thể đắc Đạo vô thượng? Phật Đạo xa thăm thẳm. Chỉ có ai đã từng trải qua vô lượng kiếp, nhẫn chịu gian khổ, tích lũy đức hạnh và tu hành đầy đủ các Pháp Đến Bờ Kia thì sau đó mới thành tựu.

Lại nữa, thân của người nữ có năm điều chướng ngại:

1. không được làm Đại Phạm Thiên Vương
2. không được làm Năng Thiên Đế
3. không được làm ma vương
4. không được làm Chuyển Luân Thánh Vương
5. không được làm Phật

Vậy thì người nữ làm sao mà mau được thành Phật?”

Khi ấy long nữ có một viên minh châu, trị giá bằng cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, và long nữ lấy dâng lên Đức Phật. Đức Phật liền tiếp thọ.

Long nữ nói với Trí Tích Bồ-tát và Tôn giả Thu Lộ Tử rằng:

“Tôi hiến dâng viên minh châu và Thế Tôn tiếp thọ, việc này có mau không?”

Đáp rằng:

“Rất mau!”

Long nữ nói rằng:

“Các ngài hãy dùng thần lực mà quán xem tôi thành Phật còn mau hơn việc đó nữa.”

Ngay lúc ấy, tất cả đại chúng đều thấy long nữ bỗng nhiên biến thành người nam, đầy đủ hạnh Bồ-tát, và liền đến Thế giới Vô Cấu ở phương nam, ngồi trên hoa sen báu và thành Chánh Đẳng Chánh Giác với 32 tướng hảo cùng 80 vẻ đẹp. Rồi vì hết thảy chúng sanh khắp mười phương mà diễn nói diệu Pháp.

Trong khi đó, chư Bồ-tát, Thanh Văn, thiên long bát bộ, người và phi nhân ở Thế giới Kham Nhẫn đều thấy long nữ thành Phật từ nơi xa và rộng vì hàng trời người nơi đó mà thuyết Pháp. Tất cả đều sanh tâm đại hoan hỷ và lễ kính từ xa. Sau khi nghe Pháp, vô lượng chúng sanh ở trong Pháp hội của Đức Phật kia đều giác ngộ và được không thoái chuyển. Lại có vô lượng chúng sanh ở cõi nước kia được thọ ký thành Phật.

Lúc bấy giờ Thế giới Vô Cấu chấn động sáu cách. Trong khi đó, Thế giới Kham Nhẫn có 3.000 chúng sanh trụ ở quả vị không thoái chuyển, 3.000 chúng sanh phát khởi Đạo tâm và được thọ ký.

Trí Tích Bồ-tát cùng Tôn giả Thu Lộ Tử và hết thảy chúng hội đều lặng yên tín thọ.

♦ PHẨM 13: KHUYẾN TRÌ

Lúc bấy giờ Dược Vương Đại Bồ-tát cùng Đại Nhạo Thuyết Đại Bồ-tát và 20.000 Bồ-tát quyến thuộc đều ở trước Phật mà phát thệ nguyện rằng:

“Kính mong Thế Tôn chớ lo lắng. Sau khi Phật diệt độ, chúng con sẽ phụng trì, đọc tụng, và thuyết giảng Kinh điển này. Căn lành của chúng sanh ở đời ác trược vị lai sẽ giảm bớt, nhiều kẻ tăng thượng mạn, tham lợi dưỡng cúng dường, phát triển các căn bất thiện, xa lìa giải thoát, và rất khó giáo hóa. Chúng con sẽ phát khởi sức nhẫn nhục lớn, thọ trì đọc tụng Kinh này, thuyết giảng biên chép, và làm muôn sự cúng dường mà chẳng hề luyến tiếc thân mạng.”

Lúc bấy giờ trong chúng hội có 500 vị Ứng Chân đã được thọ ký, họ thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng phát thệ nguyện sẽ rộng giảng Kinh này ở những quốc độ phương khác.”

Lại có 8.000 người thuộc hàng Hữu Học và bậc Vô Học đã được thọ ký, họ từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay và hướng về Đức Phật mà phát thệ nguyện như vầy:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ rộng giảng Kinh này ở những quốc độ phương khác.

Vì sao thế? Bởi trong Thế giới Kham Nhẫn này, dân chúng đa số làm điều xấu ác, ôm giữ tăng thượng mạn, công đức mỏng manh, sân hận ô trược, nịnh hót dối trá, và lòng chẳng thành thật.”

Lúc bấy giờ di mẫu của Phật là Bhikṣuṇī Đại Thắng Sanh Chủ cùng 6.000 người thuộc hàng Bhikṣuṇī Hữu Học và bậc Vô Học, họ từ chỗ ngồi đứng dậy, nhất tâm chắp tay, chiêm ngưỡng tôn nhan, mắt không muốn rời một thoáng.

Khi ấy Thế Tôn bảo di mẫu rằng:

“Tại sao lại nhìn Như Lai với nét mặt ưu sầu thế kia? Có phải lòng của di mẫu nghĩ rằng, bởi Ta không nhắc đến tên của di mẫu nên mình sẽ không được thọ ký Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng?

Này di mẫu! Ta đã bao gồm tất cả ở trước, khi Như Lai nói rằng hết thảy Thanh Văn đều đã thọ ký. Nay di mẫu muốn biết về sự thọ ký của mình, Như Lai sẽ lược nói.

Vào đời vị lai trong giáo Pháp của 68.000 ức chư Phật, di mẫu sẽ làm một đại Pháp sư. 6.000 vị Bhikṣuṇī Hữu Học và Vô Học cũng đều làm Pháp sư. Di mẫu sẽ dần dần như thế mà viên mãn Đạo Bồ-tát và sẽ thành Phật, hiệu là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Này di mẫu! Đức Phật Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến này và 6.000 vị Bồ-tát kia sẽ triển chuyển thọ ký mà thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

Lúc bấy giờ mẹ của Tôn giả Phú Chướng là Bhikṣuṇī Trì Xưng, nghĩ như vầy:

“Lúc thọ ký, Thế Tôn chưa từng nhắc đến tên mình.”

Phật bảo Bhikṣuṇī Trì Xưng:

“Vào đời vị lai, trong giáo Pháp của một tỷ ức chư Phật, Bhikṣuṇī Trì Xưng sẽ tu hạnh Bồ-tát và làm một đại Pháp sư. Bhikṣuṇī Trì Xưng sẽ dần dần viên mãn Phật Đạo và sẽ ở trong quốc độ an lành mà thành Phật, hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Phật ấy có thọ mạng dài vô lượng vô số kiếp.”

Lúc bấy giờ Bhikṣuṇī Đại Thắng Sanh Chủ với Bhikṣuṇī Trì Xưng cùng hàng quyến thuộc đều vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.

Họ liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

“Thế Tôn bậc đạo sư
An định hàng trời người
Chúng con nghe thọ ký
Tâm an lòng mãn nguyện”

Khi nói kệ ấy xong, các vị Bhikṣuṇī thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ rộng giảng Kinh này ở những quốc độ phương khác.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn quán sát 800.000 ức nayuta chư đại Bồ-tát. Chư Bồ-tát này đều là những bậc trụ không thoái chuyển, có thể chuyển Pháp luân không thoái chuyển, và đều đắc các môn tổng trì.

Họ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến ở trước Phật, nhất tâm chắp tay và nghĩ như vầy:

“Nếu Thế Tôn ban giáo sắc để thọ trì và thuyết giảng Kinh này, chúng ta sẽ như lời Phật dạy và rộng tuyên dương Pháp này.”

Lại nghĩ như vầy:

“Nay Phật lặng yên và không ban giáo sắc. Chúng ta phải nên làm gì?

Khi ấy chư Bồ-tát kính thuận Phật ý và cũng muốn viên mãn bổn nguyện của mình, nên họ đến ở trước Phật, hống tiếng sư tử mà phát lời thệ nguyện rằng:

“Thưa Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con sẽ chu du đến khắp các thế giới trong mười phương và khiến chúng sanh biên chép Kinh này, thọ trì đọc tụng, và giảng giải nghĩa thú trong đó. Do bởi uy lực của Phật nên sẽ như Pháp tu hành và khắc ghi trong lòng. Chỉ mong Thế Tôn tuy ở phương khác, sẽ trông thấy từ xa và bảo hộ chúng con.”

Khi đó chư Bồ-tát liền đồng thanh mà nói kệ rằng:

“Kính mong chớ âu lo
Sau khi Phật diệt độ
Trong đời ác kinh hãi
Chúng con sẽ rộng nói

Dù có người ngu si
Với ác khẩu mắng chửi
Cùng dao gậy đánh đập
Chúng con đều sẽ nhẫn

Bhikṣu trong đời ác
Trí tà lòng nịnh dối
Chưa đắc mà nói đắc
Ngã mạn tâm rối bời

Hoặc giả hạnh vô tranh
Áo rách trú hoang vu
Tự cho tu Chánh Đạo
Khinh chê người thế gian

Vì tham lam lợi dưỡng
Thuyết Pháp cho cư sĩ
Cố để người đời kính
Như Sáu Thông Ứng Chân

Kẻ này ôm lòng ác
Luôn nhớ chuyện thế tục
Giả danh là vô tranh
Thích vạch lỗi chúng con
Mà nói lời thế này

‘Mấy tên Bhikṣu đó
Tham lợi dưỡng cúng dường’

Nói ngoại đạo luận nghị
Tự viết sách điển đó
Dối gạt người thế gian
Do tham cầu danh tiếng
Loại bỏ Kinh này đi

Luôn ở giữa đại chúng
Vì muốn hủy chúng con
Trước quốc vương đại thần
Phạm Chí và cư sĩ
Cùng các Bhikṣu khác
Phỉ báng nói lời ác

‘Bọn người này tà kiến
Giảng ngoại đạo luận nghị’

Bởi chúng con kính Phật
Đều nhẫn việc ác này

Họ lại chế giễu rằng
‘Các ông đều là Phật!’

Những lời khinh mạn ấy
Chúng con đều nhẫn nhịn

Trong đời ác kiếp trược
Có nhiều sự kinh hoàng
Ác quỷ nhập thân người
Mắng chửi hủy nhục con

Chúng con kính tin Phật
Mặc áo giáp nhẫn nhục
Vì thuyết giảng Kinh này
Nhẫn các khổ nạn kia

Sẽ chẳng tiếc thân mạng
Chỉ cầu Đạo vô thượng
Đời vị lai chúng con
Hộ trì Phật phó chúc

Thế Tôn sẽ tự biết
Đời ác trược Bhikṣu
Chẳng biết Phật phương tiện
Tùy nhân duyên thuyết Pháp

Họ ác khẩu trù rủa
Luôn xua đuổi chúng con
Rời xa khỏi tháp tự
Các việc ác như thế
Do nhớ lời Phật dạy
Đều sẽ nhẫn việc ấy

Thôn xóm thành thị nào
Mà có ai cầu Pháp
Con đều đến nơi đó
Thuyết Pháp Phật phó chúc

Con là đệ tử Phật
Giữa chúng không sợ hãi
Con sẽ khéo thuyết Pháp
Nguyện Phật hãy an lòng

Con ở trước Thế Tôn
Chư Phật mười phương đến
Phát thệ nguyện như thế
Phật tự biết lòng con”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 4

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 5

♦ PHẨM 14: HẠNH AN LẠC

Lúc bấy giờ Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử Đại Bồ-tát bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Các vị Bồ-tát đó thật là hy hữu. Bởi họ kính thuận lời dạy của Phật và phát đại thệ nguyện để hộ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa này ở đời ác về sau.

Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát ở đời ác về sau phải thuyết giảng Kinh này như thế nào?”

Phật bảo ngài Diệu Cát Tường:

“Nếu đại Bồ-tát ở đời ác về sau muốn thuyết giảng Kinh này thì nên an trụ trong bốn Pháp.

Một là an trụ nơi hành Đạo và nơi thân cận của Bồ-tát, thì họ sẽ có thể diễn giảng Kinh này cho chúng sanh.

Này Diệu Cát Tường! Sao gọi là nơi hành Đạo của đại Bồ-tát?

Nếu đại Bồ-tát trụ ở địa nhẫn nhục thì sẽ nhu hòa, tùy thuận, và sẽ không bạo ngược. Tâm các ngài cũng sẽ không kinh sợ.

Lại cũng không có pháp để hành, mà chỉ quán tướng như thật của các pháp, cũng không hành và không phân biệt. Đây gọi là Nơi Hành Đạo của Đại Bồ-tát.

Sao gọi là nơi thân cận của đại Bồ-tát?

Đại Bồ-tát không gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, hay lân la chốn quan trường.

Đại Bồ-tát không gần gũi hàng ngoại đạo Phạm Chí, chúng ngoại đạo lõa hình, cùng người viết văn chương thế tục, hoặc những ai ca tụng sách vở ngoại đạo, hay những kẻ theo chủ nghĩa duy vật và người chống đối chủ nghĩa duy vật.

Cũng không gần gũi các loại tiêu khiển hung hiểm, như là đánh lôi đài, đấu vật, và trò diễn giải trí hay bất cứ loại ảo thuật nào.

Lại cũng không gần gũi giai cấp đê tiện, kẻ nuôi heo dê gà chó, hoặc kẻ săn bắn, bắt cá, hay những kẻ xấu ác phạm luật. Đôi lúc các hạng người như thế đến, thì đại Bồ-tát vẫn thuyết Pháp nhưng không hy vọng điều gì.

Lại cũng không gần gũi hàng Bhikṣu [bíc su], Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ nào cầu Quả Thanh Văn và cũng không thăm hỏi họ. Đại Bồ-tát cũng không trú chung ở trong phòng, nơi kinh hành, hay ở tại giảng đường với họ. Đôi lúc họ đến, thì đại Bồ-tát vẫn thuyết Pháp nhưng không hy vọng điều gì.

Này Diệu Cát Tường! Lại nữa, đại Bồ-tát không được đối với thân hình của người nữ mà khởi sanh ý tưởng sắc dục, rồi thuyết Pháp cho họ.

Đại Bồ-tát cũng không vui thích mong thấy người nữ. Nếu vào nhà người khác thì chớ cùng nói chuyện với bé gái, tỳ nữ, hay quả phụ.

Lại cũng không gần gũi với năm loại người bất nam hay kết bạn với họ.

Đại Bồ-tát không vào nhà người khác một mình. Nếu có Phật sự cần phải vào thì phải luôn nhất tâm niệm Phật.

Nếu thuyết Pháp cho người nữ thì không được cười hở răng hay để lộ ngực. Cho dù là vì Pháp đi nữa thì đại Bồ-tát cũng không giao thiệp với họ. Hà huống là những việc khác.

Đại Bồ-tát không thích nuôi dưỡng đệ tử trẻ tuổi, Cần Sách Nam, Cần Sách Nữ, hay con nít, và cũng không thích có đồng sư phụ với họ.

Đại Bồ-tát luôn thích ngồi thiền ở nơi yên tĩnh để thu nhiếp tâm họ.

Này Diệu Cát Tường! Đây gọi là Nơi Thân Cận Thứ Nhất của Đại Bồ-tát.

Lại nữa, đại Bồ-tát quán tất cả pháp đều là không; quán tướng như thật của chúng, chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thoái, chẳng chuyển; như hư không, không có tự tánh, hết thảy đường ngôn ngữ đoạn tuyệt, không sanh, không diệt, không khởi; không tên gọi, không hình tướng, thật không chỗ có, vô lượng, vô biên, vô ngại, vô chướng.

Các pháp hiện hữu là do nhân duyên và sanh ra từ điên đảo. Đại Bồ-tát luôn thích quán pháp tướng như vậy. Đây gọi là Nơi Thân Cận Thứ Nhì của Đại Bồ-tát.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nếu có Bồ-tát nào
Ở đời ác về sau
Với tâm không sợ hãi
Muốn thuyết giảng Kinh này
Nên vào nơi hành Đạo
Và cùng nơi thân cận

Luôn xa lánh quốc vương
Cùng con cháu vương tộc
Đại thần nơi quan trường
Kẻ diễn trò hung hiểm
Hàng ngoại đạo Phạm Chí
Kẻ làm nghề mổ giết

Lại cũng không gần gũi
Hạng người tăng thượng mạn
Tham chấp nơi Nhị Thừa
Mà học tập ba tạng

Hay Bhikṣu phá giới
Tự xưng bậc Ứng Chân
Cùng các Bhikṣuṇī
Thích đùa giỡn vui chơi
Chấp sâu nơi năm dục
Cầu diệt độ hiện đời
Hoặc cư sĩ như thế
Đều chớ nên thân cận

Nếu hạng người như thế
Với lòng tốt mà đến
Nơi chỗ của Bồ-tát
Để nghe về Phật Đạo

Bồ-tát liền có thể
Với tâm không sợ hãi
Không hy vọng điều gì
Mà thuyết Pháp cho họ

Góa phụ người tỳ nữ
Cùng những kẻ bất nam
Đều chớ nên gần gũi
Chớ giao tiếp với họ

Cũng chớ nên thân cận
Kẻ làm nghề mổ giết
Thợ săn người đánh cá
Kẻ vì lợi giết hại
Bán thịt để kiếm sống
Hay kẻ buôn nữ sắc

Những hạng người như thế
Đều chớ nên gần gũi
Muôn thứ loại tiêu khiển
Trò hung hiểm bạo lực
Cùng các kẻ dâm nữ
Tuyệt chớ nên thân cận

Đừng một mình nơi vắng
Thuyết Pháp cho người nữ
Nếu đến lúc thuyết Pháp
Thì không được cười giỡn

Khi vào xóm khất thực
Dẫn một Bhikṣu nữa
Nếu không có Bhikṣu
Phải nhất tâm niệm Phật

Đây gọi là Bồ-tát
Hành Xứ và Cận Xứ
Với hai xứ này đây
Khéo thuyết Pháp an vui

Lại cũng đừng thực hành
Các pháp thượng trung hạ
Pháp vô vi hữu vi
Pháp thật, pháp chẳng thật

Cũng chớ nên phân biệt
Đó là nam kia nữ
Các pháp đều vô đắc
Không biết và không thấy
Đây mới đúng gọi là
Bồ-tát hành Đạo xứ

Hết thảy tất cả pháp
Là không, không chỗ có
Chúng chẳng phải thường trụ
Cũng chẳng khởi chẳng diệt
Đây được gọi tên là
Trí Giả Thân Cận Xứ

Do điên đảo phân biệt
Các pháp có hoặc không
Là thật hay chẳng thật
Là sanh hay chẳng sanh

Ở tại nơi vắng vẻ
Bồ-tát thu nhiếp tâm
An trụ bất động dao
Vững như núi Diệu Cao

Quán sát hết thảy pháp
Thảy đều không chỗ có
Ví như là hư không
Chúng chẳng thật kiên cố

Không sanh cũng không diệt
Không động cũng không thoái
Luôn thường trụ một tướng
Đây là Thân Cận Xứ

Nếu có Bhikṣu nào
Sau khi Ta diệt độ
Nhập nơi hành Đạo ấy
Cùng với nơi thân cận
Khi thuyết giảng Kinh này
Thì sẽ không khiếp nhược

Khi Bồ-tát đi vào
Một căn phòng yên tĩnh
Với chánh niệm tư duy
Tùy nghĩa quán các pháp

Rồi từ thiền định dậy
Ngài vì các quốc vương
Vương tử với thần dân
Và cùng hàng Phạm Chí

Khai thị diễn nói Pháp
Thuyết giảng Kinh điển này
Tâm các ngài an ổn
Không có điều hãi kinh

Đồng tử Diệu Cát Tường
Đây gọi là Bồ-tát
An Trụ ở Sơ Pháp
Có thể vào đời sau
Thuyết giảng Kinh Pháp Hoa

Lại nữa, Diệu Cát Tường! Sau khi Như Lai diệt độ, vào thời Mạt Pháp, nếu ai muốn thuyết giảng Kinh này thì nên trụ ở Hạnh An Lạc.

Nếu ai tuyên giảng hoặc khi đọc Kinh, thì chớ ưa thích việc nói lỗi lầm của người hay của Kinh, cũng không được khinh mạn với các vị Pháp sư khác, và chớ nói việc tốt xấu hay dở của người. Đối với những ai tu theo Pháp Thanh Văn, thì cũng đừng nêu tên của họ để nói về việc xấu ác của họ, và cũng đừng ca tụng tên của họ về việc làm tốt của họ.

Lại cũng chớ sanh tâm oán hận. Bởi khéo tu tâm an lạc như thế, nên những người nghe sẽ không trái nghịch với tâm ý người ấy. Khi có câu hỏi khó, họ sẽ không dùng Pháp Nhị Thừa để giải đáp, mà chỉ dùng Pháp Đại Thừa thuyết giảng để khiến người nghe đắc Nhất Thiết Chủng Trí.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Bồ-tát luôn vui thích
Thuyết Pháp nơi tĩnh mịch
Ở chỗ đất thanh tịnh
Mà trải làm chỗ ngồi
Lấy dầu bôi lên thân
Tẩy rửa trừ bụi dơ

Mặc áo sạch thanh khiết
Trong ngoài đều thanh tịnh
An trụ trên Pháp tòa
Tùy người hỏi thuyết giảng

Nếu có các Bhikṣu
Cùng với Bhikṣuṇī
Hay các Thanh Tín Nam
Cùng với Thanh Tín Nữ
Quốc vương và vương tử
Quần thần và nhân dân
Dùng nghĩa thú vi diệu
Mặt tươi vui thuyết giảng

Nếu có câu hỏi khó
Tùy nghĩa lý giải đáp
Với nhân duyên thí dụ
Mà diễn giải phân biệt

Dùng môn phương tiện này
Khiến họ đều phát tâm
Lần lần thêm lợi ích
Dẫn họ vào Phật Đạo

Dẹp trừ bỏ thói lười
Cùng ý tưởng lười biếng
Rời xa mọi ưu não
Với lòng từ thuyết Pháp

Ngày đêm luôn thuyết giảng
Giáo Pháp Đạo vô thượng
Bằng vào các nhân duyên
Cùng vô lượng thí dụ
Khai thị dạy chúng sinh
Khiến đều sanh hoan hỷ

Nào y phục giường nệm
Ẩm thực và thuốc thang
Đối với những thứ ấy
Quyết không kỳ vọng gì

Chỉ nhất tâm chuyên chú
Thuyết các Pháp nhân duyên
Nguyện sẽ thành Phật Đạo
Khiến chúng sanh cũng vậy
Đây là lợi ích lớn
Làm cúng dường an vui

Sau khi Ta diệt độ
Nếu có Bhikṣu nào
Mà có thể thuyết giảng
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Không sân hận ganh ghét
Tâm phiền não chướng ngại
Cũng không có ưu sầu
Và kẻ đến mắng chửi

Lại cũng không sợ hãi
Nào là gươm đao gậy
Cũng không bị ruồng đuổi
Bởi an trụ nhẫn nhục

Bậc trí như thế ấy
Khéo tu tâm của họ
Có thể trụ an lạc
Như Ta nói ở trên

Công đức của người ấy
Ngàn vạn ức số kiếp
Dùng toán số thí dụ
Thuyết giảng không cùng tận

Lại nữa, Diệu Cát Tường! Vào đời vị lai khi Pháp sắp diệt mất, nếu đại Bồ-tát nào thọ trì và đọc tụng Kinh điển này, thì không nên ôm lòng ganh ghét, nịnh hót, hay dối trá. Họ cũng không nên mắng chửi và khinh chê người tu học Phật Đạo, hay soi mói điểm tốt điều xấu.

Nếu có những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, người cầu Quả Thanh Văn, người cầu Đạo Độc Giác, hay người cầu Đạo Bồ-tát, thì cũng không được não loạn và khiến họ nghi ngờ hay hối tiếc mà nói với họ rằng:

‘Các ông cách xa Đạo thăm thẳm và sẽ không bao giờ có thể đắc Nhất Thiết Chủng Trí.

Vì sao thế? Bởi các ông đây buông lung và lười biếng trong việc tu Đạo.’

Lại cũng không nên hí luận các pháp để gây ra tranh cãi. Người ấy nên đối với hết thảy chúng sanh mà khởi tưởng lòng đại bi, đối với chư Như Lai mà khởi tưởng như từ phụ, và đối với chư Bồ-tát mà khởi tưởng như đại sư. Người ấy phải luôn hết lòng cung kính và lễ bái đối với chư đại Bồ-tát ở các cõi nước trong mười phương. Người ấy nên bình đẳng thuyết Pháp đối với tất cả chúng sanh. Bởi tùy thuận với Pháp, người ấy không nên nói quá nhiều hay quá ít. Cho dù có người hết mực yêu mến Pháp thì cũng không nên nói nhiều.

Này Diệu Cát Tường! Vào đời vị lai khi Pháp sắp diệt mất, nếu đại Bồ-tát nào thành tựu Hạnh An Lạc thứ ba này, thì khi thuyết Pháp sẽ không thể nào bị não loạn. Họ sẽ có các thiện hữu đồng tu học và cùng đọc tụng Kinh này. Đại chúng cũng sẽ đến nghe và tín thọ.

– Khi đã nghe, sẽ có thể hành trì.
– Khi đã hành trì, sẽ có thể tụng niệm.
– Khi đã tụng niệm, sẽ có thể thuyết giảng.
– Khi đã thuyết giảng, sẽ có thể biên chép, hoặc bảo người khác biên chép để cúng dường Kinh này với lòng cung kính, tôn trọng, và tán thán.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nếu muốn giảng Kinh này
Nên xả ganh, hận, khinh
Lòng nịnh hót gian xảo
Việc làm luôn ngay thẳng

Không khinh miệt người khác
Cũng không hí luận pháp
Đừng khiến họ hoài nghi
‘Sao ông thành Phật được?’

Phật tử này thuyết Pháp
Luôn nhu hòa khéo nhẫn
Từ bi với tất cả
Không sanh tâm biếng lười

Mười phương đại Bồ-tát
Hành Đạo thương chúng sanh
Nên sanh lòng cung kính
‘Đây là thầy của tôi’

Đối chư Phật Thế Tôn
Nghĩ tưởng Đức từ phụ
Phá trừ lòng kiêu mạn
Thuyết Pháp không chướng ngại

Pháp thứ ba như thế
Bậc trí nên thủ hộ
Nhất tâm Hạnh An Lạc
Vô lượng người cung kính

Lại nữa, Diệu Cát Tường! Vào đời vị lai khi Pháp sắp diệt mất, nếu đại Bồ-tát nào trì Kinh Pháp Hoa này, thì nên sanh tâm đại từ đối với hàng xuất gia và người tại gia.

Đại Bồ-tát nên sanh tâm đại bi đối với người không phải là Bồ-tát mà nghĩ như vầy:

‘Những người này đã đánh mất sự lợi ích to lớn. Mặc dù Như Lai với phương tiện để tùy nghi thuyết Pháp, nhưng họ chẳng nghe, chẳng hay, chẳng biết, chẳng hỏi, chẳng tin, hoặc chẳng hiểu. Tuy những người ấy không hỏi, không tin, hoặc không hiểu Kinh này, nhưng khi tôi đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và cho dù họ ở bất kỳ nơi đâu, tôi sẽ dùng sức thần thông cùng sức trí tuệ để tiếp dẫn và khiến họ trụ trong Pháp này.’

Này Diệu Cát Tường! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu đại Bồ-tát nào thành tựu Pháp thứ tư này, thì khi thuyết Pháp sẽ không có sai lầm. Họ sẽ luôn được những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, Phạm Chí, cùng hàng cư sĩ cung kính cúng dường và tôn trọng tán thán. Chư thiên trong hư không cũng sẽ luôn đi theo để nghe Pháp. Nếu ở thôn xóm, thành ấp hay trong rừng hoang mà như có người đến và muốn đặt những câu hỏi khó, thì vì Pháp, chư thiên ngày đêm sẽ luôn hộ vệ họ và sẽ có thể khiến người nghe đều được hoan hỷ.

Vì sao thế? Bởi Kinh này được hết thảy thần lực của chư Phật quá khứ, hiện tại, cùng vị lai bảo hộ.

Này Diệu Cát Tường! Trong vô lượng quốc độ, danh tự của Kinh Pháp Hoa còn không thể nghe được. Huống nữa là thấy, rồi thọ trì đọc tụng.

Này Diệu Cát Tường! Đây ví như Chuyển Luân Thánh Vương cường lực muốn dùng uy thế để hàng phục các nước, nhưng mà các tiểu vương chẳng chịu tuân theo mệnh lệnh. Lúc ấy, vua Chuyển Luân điều động đủ mọi loại quân để đến thảo phạt. Khi nhà vua thấy hàng binh chúng chiến đấu có công, ngài liền vô cùng hoan hỷ và luận công thưởng thí. Hoặc ban cho ruộng vườn, nhà cửa, thôn làng, hay thành quách. Hoặc ban cho y phục hay những vật trang sức nơi thân. Hoặc ban cho muôn loại trân bảo, nào là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, và hổ phách. Hoặc ban cho voi ngựa, xe cộ, nô tỳ, hay nhân dân. Duy trừ viên minh châu trên búi tóc thì ngài sẽ không thưởng thí.

Vì sao thế? Bởi độc nhất nhà vua mới có viên minh châu này trên đỉnh đầu. Nếu ngài cho đi thì hàng quyến thuộc của nhà vua tất sẽ hết sức kinh ngạc.

Này Diệu Cát Tường! Như Lai cũng lại như vậy. Với sức thiền định và trí tuệ, Như Lai được quốc độ của Pháp và làm vua trong ba cõi. Tuy nhiên, chúng ma vương vẫn không chịu quy phục. Thế nên hiền thánh của Như Lai cùng chiến đấu với chúng, và những ai có công thì tâm của Như Lai sẽ rất hoan hỷ.

Ở trong bốn chúng đệ tử, Như Lai thuyết giảng các Kinh để khiến tâm họ vui vẻ. Như Lai ban cho thiền định, giải thoát, vô lậu, Năm Căn, Năm Lực, và các Pháp tài. Lại ban cho thành tịch diệt và bảo họ sẽ được diệt độ. Như Lai dẫn dắt tâm họ và làm cho tất cả đều hoan hỷ, nhưng Như Lai vẫn không hề giảng Kinh Pháp Hoa.

Này Diệu Cát Tường! Đây ví như vua Chuyển Luân, khi thấy trong hàng binh chúng có những vị lập đại công thì lòng ngài vui mừng khôn xiết. Cuối cùng đến lúc này, ngài mới lấy viên minh châu quý hiếm đã từ lâu gắn trên búi tóc để ban cho họ mà xưa nay chưa từng thưởng thí.

Như Lai cũng lại như vậy. Ngài làm bậc đại Pháp Vương ở trong ba cõi và dùng Pháp giáo hóa tất cả chúng sanh. Như Lai thấy quân sĩ của hiền thánh chiến đấu với ma năm uẩn, ma phiền não, và ma chết. Khi thấy họ diệt trừ ba độc, ra khỏi ba cõi, phá vòng lưới ma, và lập đại công–lúc bấy giờ Như Lai sẽ vô cùng hoan hỷ. Khi ấy, Ngài liền giảng Kinh Pháp Hoa này để có thể khiến chúng sanh đạt đến Nhất Thiết Trí. Đây là Pháp mà hết thảy thế gian đều khó tin và nhiều oán ghét. Thế nên từ trước đến nay, Như Lai chưa từng thuyết giảng.

Này Diệu Cát Tường! Kinh Pháp Hoa này là giáo Pháp đệ nhất của chư Như Lai. Ở trong tất cả giáo Pháp, Pháp này là thâm sâu nhất và chỉ phó chúc ở thời điểm cuối cùng. Đây ví như vị vua Chuyển Luân cường lực kia, ngài từ lâu bảo hộ viên minh châu và bây giờ mới mang đi thưởng thí.

Này Diệu Cát Tường! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của chư Phật Như Lai. Ở trong tất cả Kinh, Kinh này là tối thượng. Như Lai ngày đêm thủ hộ và tuyệt đối không tùy tiện tuyên nói. Chỉ đến hôm nay, Như Lai mới diễn giải cho các ông.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ai luôn hành nhẫn nhục
Thương xót với tất cả
Sẽ có thể diễn nói
Kinh chư Phật tán dương

Thời Mạt Pháp về sau
Hành giả trì Kinh này
Đối xuất gia tại gia
Người chẳng phải Bồ-tát

Nên sanh lòng từ bi
‘Những người đó chẳng nghe
Cùng chẳng tin Kinh này
Mất đi lợi ích lớn

Khi tôi thành Phật Đạo
Sẽ dùng mọi phương tiện
Để thuyết giảng Pháp này
Khiến họ trụ trong ấy’

Đây ví như cường lực
Vị Chuyển Luân Thánh Vương
Binh chiến đấu có công
Ngài ban thưởng các vật

Nào voi ngựa xe cộ
Đồ vật trang nghiêm thân
Cùng ruộng vườn nhà cửa
Thôn làng và thành ấp

Hoặc thưởng thí y phục
Muôn vật báu trân quý
Nô tỳ và tài vật
Vui vẻ ban cho họ

Ví như người khỏe mạnh
Có thể làm việc khó
Vua lấy viên minh châu
Trên búi tóc cho họ

Như Lai cũng như vậy
Là vua của các pháp
Với nhẫn nhục đại lực
Và trí tuệ bảo tạng
Với lòng đại từ bi
Như Pháp độ thế gian

Khi Ngài thấy mọi người
Thọ lấy các khổ não
Muốn cầu giải thoát ra
Cùng chúng ma chiến đấu

Vì những chúng sanh này
Thuyết giảng đủ mọi Pháp
Dùng môn đại phương tiện
Thuyết các Kinh như thế

Một khi biết chúng sanh
Đã có sức mạnh rồi
Đợi đến lúc sau cùng
Ngài giảng Kinh Pháp Hoa
Như vua lấy minh châu
Trên búi tóc cho họ

Trong tất cả các Kinh
Kinh này là tối thượng
Như Lai luôn thủ hộ
Chẳng tùy tiện khai thị
Nhưng nay chính là lúc
Để nói cho các ông

Sau khi Ta diệt độ
Những ai cầu Phật Đạo
Muốn có được an ổn
Và muốn giảng Kinh này
Thì phải nên thân cận
Bốn Pháp như thế ấy

Những ai đọc Kinh này
Sẽ luôn không ưu phiền
Lại chẳng có bệnh khổ
Nhan sắc tươi hồng hào
Không sanh chốn bần cùng
Thấp kém hay xấu xí

Chúng sanh nhìn yêu mến
Ái mộ như thánh hiền
Các đồng tử cõi trời
Làm sứ giả của họ

Dao gậy chẳng thể tổn
Thuốc độc chẳng thể hại
Nếu ai ác mắng chửi
Miệng sẽ liền câm nín

Du hành chẳng kinh sợ
Ví như sư tử chúa
Ánh sáng của trí tuệ
Chiếu soi như mặt trời

Nếu ở trong giấc mộng
Chỉ thấy điều vi diệu
Họ thấy chư Như Lai
Ngồi trên tòa sư tử
Các Bhikṣu vây quanh
Và thuyết giảng Kinh Pháp

Họ lại thấy long thần
Và các loài phi thiên
Số như cát sông Hằng
Đều cung kính chắp tay

Tự thấy chính thân mình
Thuyết giảng Pháp cho họ
Lại thấy các Đức Phật
Thân tướng với sắc vàng
Phóng vô lượng quang minh
Biến chiếu đến tất cả
Và với tiếng Phạm âm
Mà diễn nói các Pháp

Vì bốn chúng đệ tử
Phật thuyết Pháp vô thượng
Tự thấy họ trong ấy
Chắp tay tán thán Phật

Nghe Pháp tâm hoan hỷ
Rồi liền làm cúng dường
Sẽ đắc các tổng trì
Chứng trí không thoái chuyển

Phật biết tâm của họ
Đã vào sâu Phật Đạo
Thế nên liền thọ ký
Sẽ thành Tối Chánh Giác

‘Này các thiện nam tử
Ông vào đời vị lai
Sẽ được vô lượng trí
Và Đại Đạo của Phật

Cõi nước tịnh trang nghiêm
Rộng lớn không gì sánh
Có bốn chúng đệ tử
Chắp tay lắng nghe Pháp’

Lại thấy thân chính họ
Sống ở trong núi rừng
Tu tập mọi Pháp lành
Chứng thật tướng các pháp
Vào sâu trong thiền định
Thấy mười phương chư Phật

Chư Phật thân sắc vàng
Trăm phước tướng trang nghiêm
Nghe Pháp giảng cho người
Thường có mộng tốt này

Lại mơ làm quốc vương
Rời cung điện quyến thuộc
Cùng thượng diệu năm dục
Mà đi tới Đạo Tràng

Ở dưới cội Đạo thụ
Ngồi trên tòa sư tử
Sau bảy ngày cầu Đạo
Đắc trí của chư Phật

Khi thành Đạo vô thượng
Chu du chuyển Pháp luân
Thuyết Pháp cho bốn chúng
Suốt ngàn vạn ức kiếp
Thuyết vô lậu diệu Pháp
Độ vô lượng chúng sanh

Sau sẽ vào tịch diệt
Như đèn đã cạn dầu
Nếu đời ác về sau
Thuyết Pháp đệ nhất này
Người ấy được lợi lớn
Các công đức như trên”

♦ PHẨM 15: TỪ DƯỚI ĐẤT VỌT RA

Lúc bấy giờ chư đại Bồ-tát đã đến từ cõi nước phương khác, số lượng ấy vượt hơn số cát của tám sông Hằng, họ từ trong đại chúng đứng dậy, chắp tay đảnh lễ và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Nếu Như Lai cho phép thì sau khi Phật diệt độ, chúng con sẽ ở tại Thế giới Kham Nhẫn, chuyên cần tinh tấn, hộ trì đọc tụng, biên chép cúng dường Kinh điển này, và sẽ ở cõi nước đây mà rộng thuyết giảng.”

Khi ấy Phật bảo chư đại Bồ-tát:

“Thôi đừng, thiện nam tử! Ta không cần các ông hộ trì Kinh này.

Vì sao thế? Bởi Thế giới Kham Nhẫn của Ta đã có 60.000 Hằng Hà sa chư đại Bồ-tát. Mỗi vị Bồ-tát có 60.000 Hằng Hà sa quyến thuộc. Sau khi Ta diệt độ, những vị như thế sẽ hộ trì đọc tụng và rộng thuyết giảng Kinh này.”

Khi Phật nói lời ấy xong, Tam Thiên Đại Thiên Quốc Độ của Thế giới Kham Nhẫn đều chấn động và mặt đất nứt ra. Ở trong đó có vô lượng ngàn vạn ức chư đại Bồ-tát đồng một lúc vọt ra. Thân của chư Bồ-tát này đều có màu vàng với 32 tướng và vô lượng quang minh.

Các ngài đã trú trong hư không ở phía dưới của Thế giới Kham Nhẫn. Khi nghe âm thanh của Đức Phật Năng Tịch, chư Bồ-tát này từ dưới đó vọt lên.

Mỗi vị Bồ-tát đều là bậc đạo sư thượng thủ của đại chúng. Có vị dẫn theo 60.000 Hằng Hà sa quyến thuộc. Có vị dẫn theo 50.000, 40.000, 30.000, 20.000, hay 10.000 Hằng Hà sa quyến thuộc. Lại có vị dẫn theo một Hằng Hà sa, nửa Hằng Hà sa, một phần tư, cho đến chỉ một phần của mười triệu ức nayuta [na du ta] của số lượng cát trong một sông Hằng.

Lại có vị dẫn theo mười triệu ức nayuta quyến thuộc. Lại có vị dẫn theo 100 triệu quyến thuộc. Lại có vị dẫn theo 10 triệu, 1 triệu, cho đến chỉ 10.000 quyến thuộc. Lại có vị dẫn theo 1.000, 100, cho đến chỉ 10 quyến thuộc. Lại có vị dẫn theo 5, 4, 3, 2, hay chỉ 1 đệ tử. Có vị chỉ đến một mình và thích sống hạnh viễn ly. Số lượng như thế nhiều vô lượng vô biên. Cho dù dùng toán số thí dụ thì cũng chẳng thể biết.

Khi chư Bồ-tát này đã từ dưới đất vọt ra, tất cả đều bay lên hư không để đến chỗ của Đa Bảo Như Lai và Đức Phật Năng Tịch đang ngồi tại tháp bảy báu vi diệu. Lúc đến nơi, họ hướng về nhị vị Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật. Họ cũng đều đến chỗ của chư Phật đang ngồi trên tòa sư tử ở dưới các cây báu, rồi đảnh lễ, nhiễu ba vòng bên phải, chắp tay cung kính, và tán thán chư Phật với muôn Pháp ngợi khen của chư Bồ-tát. Sau đó, họ đứng qua một bên và hân hoan chiêm ngưỡng hai vị Thế Tôn.

Từ lúc chư đại Bồ-tát này mới từ dưới đất vọt ra và cho đến khi họ tán thán chư Phật với muôn Pháp ngợi khen của chư Bồ-tát xong, thời gian trải qua như thế là 50 tiểu kiếp. Đương lúc ấy, Đức Phật Năng Tịch ngồi lặng yên và bốn chúng đệ tử cũng đều lặng yên suốt 50 tiểu kiếp. Do thần lực của Phật nên khiến các đại chúng tưởng chừng như nửa ngày.

Lúc bấy giờ, cũng do thần lực của Phật, bốn chúng đệ tử thấy chư Bồ-tát biến khắp hư không của vô lượng tỷ ức quốc độ. Trong số chư Bồ-tát này có bốn vị đạo sư.

– Vị thứ nhất tên là Thượng Hạnh.
– Vị thứ nhì tên là Vô Biên Hạnh.
– Vị thứ ba tên là Tịnh Hạnh.
– Vị thứ tư tên là An Lập Hạnh.

Bốn vị Bồ-tát này là những bậc tối thượng thủ và là bậc xướng đạo sư ở giữa đại chúng đó.

Các ngài ở trước đại chúng, mỗi vị đồng chắp tay, rồi quán Đức Phật Năng Tịch, và thăm hỏi rằng:

“Thế Tôn không có bệnh và không có phiền não chứ? Hạnh làm có an lạc chăng? Những ai nên độ có giáo hóa dễ dàng chăng? Họ không làm Thế Tôn mệt mỏi chứ?”

Lúc bấy giờ bốn vị đại Bồ-tát nói kệ rằng:

“Thế Tôn có an lạc
Không bệnh không phiền não
Việc giáo hóa chúng sanh
Không có mệt mỏi chứ?

Và còn các chúng sanh
Dạy bảo dễ dàng chăng?
Họ không làm Thế Tôn
Sanh tâm mệt mỏi chứ?”

Lúc bấy giờ ở giữa chư Bồ-tát đại chúng, Thế Tôn nói lời như vầy:

“Như thị, như thị, các thiện nam tử! Như Lai rất an lạc, không bệnh, và không có phiền não. Các chúng sanh cũng hóa độ dễ dàng và không làm Ta mệt mỏi.

Vì sao thế? Bởi những chúng sanh này, từ đời này sang đời khác, họ luôn được Ta giáo hóa. Ở nơi chư Phật quá khứ, họ cũng tôn kính cúng dường và gieo trồng mọi căn lành. Các chúng sanh đó, ngay từ lúc đầu tiên thấy và nghe Pháp của Ta, họ liền đều tín thọ và vào trí tuệ của Như Lai–ngoại trừ những ai đã tu tập và học Pháp Nhị Thừa trước. Những người như thế, Ta nay cũng khiến họ nghe được Kinh này và vào trí tuệ của Phật.”

Lúc bấy giờ chư đại Bồ-tát nói kệ rằng:

“Thật lành thay lành thay
Bậc Đại Hùng Thế Tôn
Các chúng sanh như thế
Cũng hóa độ dễ dàng

Họ khéo hỏi chư Phật
Về trí tuệ thâm sâu
Nghe tin rồi hành trì
Chúng con thảy tùy hỷ”

Khi ấy Thế Tôn ngợi khen các thượng thủ của chư đại Bồ-tát kia rằng:

“Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Các ông ở trước Như Lai mà có thể phát tâm tùy hỷ như thế.”

Lúc bấy giờ Từ Thị Bồ-tát cùng với 8.000 Hằng Hà sa chư Bồ-tát đều nghĩ như vầy:

“Từ xưa đến nay, chúng ta chưa từng bao giờ thấy hoặc nghe về những vị đại Bồ-tát như thế. Họ từ dưới đất vọt ra, đứng ở trước Thế Tôn, chắp tay cúng dường, và vấn an Như Lai.”

Lúc bấy giờ Từ Thị Đại Bồ-tát biết tâm niệm của 8.000 Hằng Hà sa chư Bồ-tát và cũng muốn giải đáp điều hoài nghi của chính mình, ngài chắp tay, rồi hướng về Đức Phật và dùng kệ hỏi rằng:

“Vô lượng ngàn vạn ức
Đại chúng chư Bồ-tát
Xưa nay chưa hề thấy
Mong Phật hãy tuyên nói
Họ từ nơi nào đến
Nhân duyên gì tụ hội?

Thân lớn đại thần thông
Trí tuệ chẳng nghĩ bàn
Chí niệm họ kiên cố
Có sức đại nhẫn nhục

Chúng sanh vui mừng thấy
Họ từ đâu đến đây?

Mỗi vị Bồ-tát đó
Dẫn theo hàng quyến thuộc
Số ấy vô hạn lượng
Nhiều như cát sông Hằng

Hoặc có đại Bồ-tát
Dẫn sáu vạn Hằng sa
Các đại chúng như thế
Nhất tâm cầu Phật Đạo

Các vị đại sư đó
Sáu vạn Hằng Hà sa
Đồng đến cúng dường Phật
Cùng hộ trì Kinh này

Dẫn năm vạn Hằng sa
Số ấy còn hơn đây
Bốn vạn hay ba vạn
Hai vạn đến một vạn

Một ngàn đến một trăm
Thậm chí một Hằng sa
Một nửa ba bốn phần
Một phần của ức vạn

Ngàn vạn nayuta
Vạn ức các đệ tử
Cho đến chỉ nửa ức
Số ấy còn hơn trên

Trăm vạn đến một vạn
Một ngàn hoặc một trăm
Năm mươi hay chỉ mười
Cho đến ba hai một

Đơn độc không quyến thuộc
Ưa thích ở một mình
Họ đồng đến chỗ Phật
Số ấy còn hơn trên

Các đại chúng như thế
Nếu có người tính đếm
Trọn cả Hằng sa kiếp
Cũng chẳng thể biết hết

Chư Bồ-tát này đây
Tinh tấn đại uy đức
Ai đã thuyết Pháp cho
Giáo hóa họ thành tựu?

Sơ phát tâm từ ai?
Tuyên dương Phật Pháp ai?
Thọ trì Kinh Pháp gì?
Tu tập Phật Đạo gì?

Chư Bồ-tát như thế
Thần thông đại trí lực
Bốn phương đất động nứt
Đều từ trong vọt ra

Thế Tôn con xưa nay
Chưa từng thấy việc này
Xin nói họ từ đâu
Quốc độ tên là gì

Con thường du các cõi
Nhưng chưa từng thấy qua
Con ở trong số họ
Một vị cũng chẳng biết

Bỗng từ đất vọt ra
Xin nói nhân duyên này
Nay ở đại hội đây
Vô lượng trăm ngàn ức

Tất cả chư Bồ-tát
Đều muốn biết việc này
Chư đại Bồ-tát đó
Nhân duyên mỗi từng vị
Thế Tôn vô lượng đức
Kính mong trừ chúng nghi”

Lúc bấy giờ, phân thân của Đức Phật Năng Tịch đã đến từ vô lượng ngàn vạn ức cõi nước phương khác, chư Phật đó ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen trên tòa sư tử ở dưới các cây báu khắp tám phương. Khi thị giả của mỗi chư Phật đó thấy chư Bồ-tát này ở trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới của bốn phương từ dưới đất vọt ra và trụ ở hư không.

Họ đều thưa với Đức Phật của mình rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vô lượng vô biên vô số chư Bồ-tát đại chúng này là từ đâu đến?”

Khi ấy, mỗi chư Phật đều bảo thị giả rằng:

“Các thiện nam tử! Hãy đợi một lát thì sẽ có một vị đại Bồ-tát tên là Từ Thị. Ngài đã được Đức Phật Năng Tịch thọ ký kế đến sẽ làm Phật. Khi ngài đã hỏi về việc ấy, Đức Phật đó sẽ trả lời. Do nhân này mà các ông cũng sẽ được nghe.”

Khi ấy Đức Phật Năng Tịch bảo Từ Thị Đại Bồ-tát:

“Lành thay, lành thay, Vô Năng Thắng! Ông khéo có thể hỏi Phật về một việc lớn như thế. Các ông phải đồng nhất tâm, mặc áo giáp tinh tấn và phát tâm kiên cố. Nay Như Lai muốn hiển thị và tuyên dương trí tuệ của chư Phật, sức tự tại thần thông của chư Phật, sức sư tử phấn tấn của chư Phật, và sức uy mãnh đại thế của chư Phật.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Phải tinh tấn nhất tâm
Ta muốn nói việc này
Chớ nghi ngờ hối tiếc
Phật trí chẳng nghĩ bàn

Giờ ông khởi tín lực
Trụ trong nhẫn nhục lành
Pháp này chưa hề nghe
Nay đều sẽ được nghe

Ta nay an ủi ông
Chớ hoài nghi sợ hãi
Lời Phật chẳng hư vọng
Trí tuệ chẳng thể lường

Chứng đắc Pháp đệ nhất
Thâm sâu chẳng nghĩ bàn
Thế nên giờ sẽ nói
Các ông chú tâm nghe”

Khi nói kệ này xong, Thế Tôn bảo Từ Thị Bồ-tát rằng:

“Ta nay ở giữa đại chúng mà tuyên cáo việc này đến các ông.

Này Vô Năng Thắng! Vô lượng vô biên vô số chư đại Bồ-tát từ dưới đất vọt ra mà xưa nay các ông chưa từng thấy qua đó, sau khi Ta đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở Thế giới Kham Nhẫn này đây, chư Bồ-tát ấy đều do Ta giáo hóa khai đạo. Như Lai điều phục tâm họ và khiến họ phát khởi Phật Đạo. Chư Bồ-tát này đều trú trong hư không ở bên dưới của Thế giới Kham Nhẫn. Đối với các Kinh điển, họ đọc tụng rành rẽ, phân biệt nghĩa lý, và chánh niệm tư duy.

Này Vô Năng Thắng! Hết thảy các thiện nam tử đó, họ đều không thích ở nơi náo nhiệt hay đàm luận nói nhiều. Họ luôn thích nơi yên tĩnh và tinh tấn tu hành mà chưa hề thôi nghỉ. Họ cũng không cư trú chung với trời hay người. Họ luôn yêu mến trí tuệ thâm sâu và không có sự chướng ngại. Họ cũng luôn yêu mến Pháp của chư Phật. Với nhất tâm tinh tấn, họ cầu trí tuệ vô thượng.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Từ Thị ông nên biết
Chư đại Bồ-tát này
Vô số kiếp đến nay
Tu hành trí của Phật

Thảy do Ta giáo hóa
Khiến phát Đại Đạo tâm
Họ là đệ tử Ta
Trú ở thế giới này

Thường luôn tu khổ hạnh
Chỉ thích nơi yên tĩnh
Xa đám đông huyên náo
Không thích nói chuyện nhiều

Các đệ tử như thế
Học tập Đạo Pháp Ta
Ngày đêm luôn tinh tấn
Là vì cầu Phật Đạo

Trú hư không bên dưới
Của Thế giới Kham Nhẫn
Chí niệm lực kiên cố
Luôn siêng cầu trí tuệ
Thuyết giảng muôn diệu Pháp
Tâm họ không sợ hãi

Ta ở thành Tượng Đầu
Ngồi dưới cội Đạo thụ
Được thành Tối Chánh Giác
Chuyển Pháp luân vô thượng
Rồi mới giáo hóa họ
Khiến sơ phát Đạo tâm

Nay đều không thoái chuyển
Vị lai sẽ thành Phật
Ta nay nói lời thật
Các ông hết lòng tin
Ta từ thuở xa xưa
Đã giáo hóa họ rồi”

Lúc bấy giờ trong lòng của Từ Thị Đại Bồ-tát cùng vô số chư Bồ-tát khởi lên sự hoài nghi quái lạ chưa từng có.

Họ suy nghĩ rằng:

“Làm sao Thế Tôn chỉ ở trong một thời gian ngắn mà đã giáo hóa vô lượng vô biên vô số chư đại Bồ-tát và khiến họ trụ nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác như thế?”

Liền bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Lúc Như Lai làm thái tử, ngài rời vương cung thuộc dòng tộc Năng Nhân, rồi đi đến một nơi cách thành Tượng Đầu không xa, ngồi ở Đạo Tràng và đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thời gian đó đến nay chỉ mới hơn 40 năm.

Bạch Thế Tôn! Làm sao chỉ ở trong một thời gian ngắn mà có thể làm đại Phật sự như thế, Ngài đã dùng uy lực cùng công đức gì của Phật để giáo hóa vô lượng chư đại Bồ-tát và khiến họ sẽ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?

Bạch Thế Tôn! Giả sử có người tính đếm số lượng của chư đại Bồ-tát này trong ngàn vạn ức kiếp thì cũng chẳng thể cùng tận hay biết được giới hạn. Từ lâu xa đến nay, họ đã ở nơi của vô lượng vô biên chư Phật gieo trồng mọi căn lành, thành tựu Đạo Bồ-tát, và luôn tu tịnh hạnh.

Bạch Thế Tôn! Việc như thế này, người thế gian thật khó mà tin được. Đây ví như có một người 25 tuổi với mái tóc đen và nét mặt thanh tú.

Người ấy chỉ vào một người 100 tuổi và bảo rằng:

‘Đây là con tôi.’

Người 100 tuổi kia cũng chỉ vào người trẻ tuổi đó và bảo rằng:

‘Đây là cha tôi, người đã có ơn sinh thành dưỡng dục chúng tôi.’

Việc như thế rất khó tin. Phật cũng như vậy. Từ khi Như Lai đắc Đạo đến nay, thời gian đó thật chẳng bao lâu. Còn chư đại Bồ-tát này vì cầu Phật Đạo, họ đã tinh tấn tu hành trong vô lượng ngàn vạn ức kiếp, khéo nhập định, xuất định, và trụ vô lượng tỷ ức chánh định. Họ đắc đại thần thông, từ lâu tu tịnh hạnh, khéo có thể tu tập thứ tự các Pháp lành, và thiện xảo trong việc hỏi đáp. Họ là những viên minh châu giữa hàng người và rất quý hiếm trong tất cả thế gian. Nhưng hôm nay, Thế Tôn bảo là chỉ khi nào Phật đắc Đạo, thì mới có thể khiến họ sơ phát tâm, giáo hóa khai đạo và dẫn họ đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Thời gian Thế Tôn thành Phật chưa lâu lắm, sao Ngài lại có thể làm việc công đức to lớn như thế! Chúng con hết mực thâm tín vào sự tùy nghi thuyết Pháp của Phật. Lời của Phật nói ra chưa bao giờ hư dối. Sự hiểu biết của Phật thảy đều thông đạt. Tuy nhiên, sau khi Phật diệt độ, nếu các vị sơ phát tâm Bồ-tát nghe lời nói đây, họ có thể không tín thọ và sẽ nảy sanh nhân duyên về nghiệp tội phá hoại Đạo Pháp.

Kính mong Thế Tôn hãy thuyết giảng để đoạn trừ hoài nghi của chúng con cùng các thiện nam tử ở vào đời vị lai. Khi đã nghe việc này, họ cũng sẽ không sanh lòng hoài nghi.”

Lúc bấy giờ Từ Thị Bồ-tát muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Xưa Phật từ trong tộc Năng Nhân
Xuất gia ở gần thành Tượng Đầu
Đi đến ngồi dưới cội Đạo thụ
Từ đó đến nay chưa lâu lắm

Hết thảy Phật tử đó
Số ấy chẳng thể lường
Đã lâu hành Phật Đạo
Trụ nơi sức thần thông

Khéo học Đạo Bồ-tát
Chẳng nhiễm pháp thế gian
Như hoa sen trên nước
Từ dưới đất vọt ra

Đều khởi lòng cung kính
Đứng ở trước Thế Tôn
Việc này chẳng nghĩ bàn
Làm sao mà tin được?

Phật đắc Đạo gần đây
Nhưng thành tựu rất nhiều
Xin nguyện trừ chúng nghi
Phân biệt nói sự thật

Ví như có người trẻ
Tuổi mới hai mươi lăm
Chỉ vào người trăm tuổi
Tóc bạc mặt nhăn nheo

Bảo đây là con tôi
Con cũng bảo là cha
Cha trẻ nhưng con già
Thế gian khó mà tin

Thế Tôn cũng như vậy
Đắc Đạo mới gần đây
Còn chư Bồ-tát đó
Vững chí chẳng khiếp nhược

Vô lượng kiếp đến nay
Tu hành Đạo Bồ-tát
Thiện xảo việc hỏi đáp
Tâm họ không sợ hãi

Nhẫn nhục lòng kiên định
Đoan chánh có uy đức
Mười phương Phật đều khen
Khéo phân biệt giảng giải

Chẳng ưa nơi đông người
Luôn thích trong thiền định
Vì chí cầu Phật Đạo
Ở hư không phía dưới

Chúng con nghe từ Phật
Việc này chẳng hoài nghi
Nguyện Phật vì vị lai
Diễn nói khiến họ hiểu

Nếu ai với Kinh này
Sanh lòng nghi chẳng tin
Tức sẽ đọa đường ác
Nay mong Phật hãy nói
Vô lượng Bồ-tát đó
Làm sao thời gian ngắn
Giáo hóa khiến phát tâm
Mà trụ không thoái chuyển”

♦ PHẨM 16: THỌ LƯỢNG CỦA NHƯ LAI

Lúc bấy giờ Phật bảo chư Bồ-tát cùng toàn thể đại chúng:

“Các thiện nam tử! Các ông nên tín thọ và liễu giải lời thành thật của Như Lai.”

Lại bảo các đại chúng rằng:

“Các ông nên tín thọ và liễu giải lời thành thật của Như Lai.”

Lại bảo các đại chúng thêm một lần nữa:

“Các ông nên tín thọ và liễu giải lời thành thật của Như Lai.”

Ngay lúc ấy, chư Bồ-tát trong Pháp hội với ngài Từ Thị làm thượng thủ, chắp tay và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Kính mong hãy nói. Chúng con sẽ tín thọ lời Phật dạy.”

Họ thưa như vậy ba lần, rồi lại thưa rằng:

“Kính mong hãy nói. Chúng con sẽ tín thọ lời Phật dạy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn biết chư Bồ-tát sẽ không ngừng lại với ba lần thỉnh cầu thôi, nên Ngài bảo rằng:

“Các ông hãy lắng nghe về sức thần thông bí mật của Như Lai. Tất cả trời người cùng phi thiên trong thế gian, đều cho là ngày nay Đức Phật Năng Tịch mới rời vương cung thuộc dòng tộc Năng Nhân, rồi đi đến một nơi cách thành Tượng Đầu không xa, ngồi ở Đạo Tràng và đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Tuy nhiên, thiện nam tử! Thật ra Ta đã thành Phật từ vô lượng vô biên tỷ ức nayuta kiếp về trước.

Giả sử có một người nghiền nát năm tỷ ức nayuta vô số Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới thành những hạt vi trần. Rồi giả như người ấy đi qua năm tỷ ức nayuta vô số quốc độ ở phương đông và bỏ xuống một hạt vi trần. Người đó cứ tiếp tục đi về hướng đông như thế cho đến khi đã bỏ xuống hết những vi trần ấy.

Các thiện nam tử! Ý các ông nghĩ sao? Có thể nào tính đếm và biết được số lượng của các thế giới đó không?”

Từ Thị Bồ-tát và những vị khác đồng thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Các thế giới đó là vô lượng vô biên, không thể dùng toán số hay tâm lực mà biết được. Cho dù hết thảy Thanh Văn cùng Độc Giác dùng trí vô lậu để tư duy, thì cũng chẳng thể nào biết được giới hạn của số đó. Chúng con trụ ở quả vị không thoái chuyển, nhưng cũng chẳng thể thông đạt việc này.

Thưa Thế Tôn! Các thế giới như thế là vô lượng vô biên.”

Lúc bấy giờ Phật bảo chư đại Bồ-tát:

“Các thiện nam tử! Ta bây giờ sẽ giải thích tường tận cho các ông. Các thế giới đó, dù có một hạt vi trần bỏ xuống hay không, thì cũng mang đi nghiền nát hết ra thành những hạt vi trần, rồi cứ tính mỗi vi trần làm thành một kiếp. Thời gian Ta đã thành Phật đến nay còn vượt hơn số đó đến cả tỷ ức nayuta vô số kiếp.

Kể từ đó đến nay, Ta luôn ở tại Thế giới Kham Nhẫn thuyết Pháp và giáo hóa chúng sanh. Cũng như khai đạo và làm lợi ích cho chúng sanh trong tỷ ức nayuta vô số cõi nước phương khác.

Các thiện nam tử! Ở trong thời gian đó, Ta nói về Đức Phật Nhiên Đăng và chư Phật khác. Ta lại nói rằng chư Phật đó vào tịch diệt. Nhưng các việc như thế đều là dùng phương tiện để phân biệt.

Các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào đến chỗ của Ta, Ta sẽ dùng Phật nhãn quán sát tín tâm của họ, các căn tánh lợi độn và những phẩm tánh khác, rồi Ta mới tùy cơ hóa độ. Ở tùy theo mỗi nơi mà Ta thuyết Pháp, danh xưng của Ta không giống nhau, tuổi tác của Ta hoặc lớn hay nhỏ. Ta cũng lại thị hiện nói là sẽ vào tịch diệt. Lại cũng dùng đủ mọi phương tiện để thuyết diệu Pháp và khiến chúng sanh khởi lòng hoan hỷ.

Các thiện nam tử! Như Lai thấy các chúng sanh thích nơi Pháp nhỏ nên Ta vì những kẻ đức mỏng nghiệp nặng mà nói với họ rằng:

‘Lúc trẻ, ta đã xuất gia và đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.’

Kỳ thật thì từ xa xưa Ta đã thành Phật rồi. Ta chỉ vì giáo chúng sanh mà dùng phương tiện và khiến họ vào Phật Đạo nên mới nói như thế.

Các thiện nam tử! Kinh điển do Như Lai diễn nói đều là để độ thoát chúng sanh. Hoặc Như Lai dùng chính thân mình để thuyết giảng, hay dùng thân người khác để thuyết giảng. Hoặc Như Lai dùng chính thân mình để thị hiện, hay dùng thân người khác để thị hiện. Hoặc Như Lai dùng việc của chính mình để hiển thị, hay dùng việc của người khác để hiển thị. Tất cả lời nói đều là chân thật bất hư.

Vì sao thế? Bởi Như Lai biết và thấy tướng như thật của ba cõi. Không sanh không chết, không thoái không tiến, cũng không tại thế hay diệt độ. Không thật cũng không hư, không như như cũng không sai khác. Như Lai thấy ba cõi như chẳng phải ba cõi. Các việc như thế, Như Lai thấy rõ ràng và chẳng có sai lầm.

Do các chúng sanh có muôn loại chủng tánh, muôn điều mong muốn, muôn thứ hành nghiệp, cùng muôn sự tưởng nhớ và phân biệt, vì muốn khiến họ sanh các thiện căn nên Như Lai dùng mọi nhân duyên và thí dụ ngôn từ cùng đủ mọi cách thuyết Pháp để làm Phật sự mà chưa hề tạm lãng quên.

Vì thế, tính từ lúc Ta thành Phật ở thuở rất xa xưa về trước, thọ mạng của Ta là vô lượng vô số kiếp và thường trụ bất diệt.

Các thiện nam tử! Khi Ta tu hành Đạo Bồ-tát thuở trước, thọ mạng đó đến nay vẫn chưa chấm dứt và còn gấp bội hơn số trên.

Tuy nhiên, Ta nay chẳng phải thật diệt độ nhưng lại nói rằng:

‘Ta sẽ diệt độ.’

Như Lai dùng phương tiện ấy là để giáo hóa chúng sanh.

Vì sao thế? Bởi nếu Phật trụ lâu ở thế gian thì những người đức mỏng sẽ không gieo trồng căn lành. Những kẻ bần cùng hạ tiện, những kẻ tham trước năm dục, và những kẻ đã rơi vào lưới tà kiến, nếu thấy Như Lai thường trụ bất diệt thì họ sẽ kiêu mạn, phóng túng, nhàm chán, và lười biếng. Họ sẽ chẳng thể sanh lòng cung kính và nghĩ tưởng là rất khó mà gặp được Phật.

Thế nên Như Lai dùng phương tiện mà nói rằng:

‘Này các Bhikṣu! Nên biết rằng, chư Phật xuất hiện ở thế gian rất khó gặp được.’

Vì sao thế? Bởi những người đức mỏng trải qua vô lượng tỷ ức kiếp, trong thời gian đó họ có thể gặp hay chẳng thể gặp Phật.

Vì lẽ đó cho nên Ta nói lời như vầy:

‘Này các Bhikṣu! Như Lai rất khó gặp được.’

Khi nghe lời nói như thế, các chúng sanh ấy tất sẽ nghĩ tưởng là rất khó mà gặp được Phật, nên lòng họ sanh quyến luyến, khát ngưỡng quý mến, và sẽ gieo trồng căn lành. Vì thế, tuy Như Lai thật chẳng diệt độ mà nói là diệt độ.

Lại nữa, các thiện nam tử! Pháp của chư Phật Như Lai đều như thế, là vì để cứu độ chúng sanh và đều chân thật bất hư.

Đây ví như có một vị lương y với trí tuệ thông đạt, chế thuốc tinh luyện và khéo chữa trị mọi chứng bệnh. Người này có rất nhiều con cái–hoặc là 10, 20 hay cho đến 100 đứa. Do có công việc nên người cha phải đi xa đến nước khác. Sau đó, các con ở nhà đã uống phải thuốc độc, khiến họ điên loạn và lăn lộn trên đất.

Đúng lúc ấy thì người cha trở về nhà. Do các con đã uống thuốc độc nên có đứa đã mất đi bổn tâm, có đứa thì vẫn chưa. Khi trông thấy người cha từ xa, họ đều vui mừng khôn xiết.

Họ quỳ xuống và thưa với cha rằng:

‘Cha đã trở về bình an, thiệt là tốt quá. Chúng con do bởi ngu si nên đã uống nhầm thuốc độc, xin cha hãy chữa trị và cứu vớt tánh mạng của chúng con.’

Thấy các con mình bị khổ não như thế, người cha căn cứ theo sách y dược mà đi tìm các dược thảo tốt với sắc hương mỹ vị đều có đầy đủ. Sau đó, người cha giã, sàng, và trộn các phương thuốc, rồi đưa cho các con.

Ngài nói lời như vầy:

‘Lương dược này rất tốt, sắc hương mỹ vị đều có đầy đủ. Nếu các con lấy uống thì khổ não sẽ mau tiêu trừ và chẳng còn hoạn nạn.’

Trong số các con của ông, có đứa vẫn chưa mất đi tâm tánh nên khi thấy lương dược với màu đẹp hương thơm, chúng liền lấy uống nên hoàn toàn bình phục. Có đứa đã mất đi bổn tâm, tuy cũng mừng rỡ khi thấy cha về và xin cha trị bệnh, nhưng chúng lại không chịu dùng thuốc này.

Vì sao thế? Bởi độc khí đã thâm nhập nên chúng mất đi bổn tâm. Đối với thuốc có màu đẹp với hương thơm thì chúng cho là không tốt.

Người cha liền nghĩ:

‘Các đứa con này thật đáng thương! Bị trúng phải độc nên toàn tâm điên đảo. Tuy vui mừng khi thấy ta và cầu xin cứu chữa, nhưng đối với phương thuốc hay lại chẳng chịu dùng. Ta nay phải thiết lập phương tiện để khiến chúng dùng thuốc này.’

Ông liền nói lời như sau:

‘Các con nên biết rằng, nay cha đã già yếu và cái chết cận kề. Giờ ta để lại lương dược này ở đây, các con hãy lấy dùng và đừng lo là bệnh sẽ không lành.’

Căn dặn như vậy xong, người cha liền đi đến nước khác và sai người về nhắn tin rằng:

‘Cha của các người đã chết.’

Khi các đứa con nghe tin cha đã qua đời, lòng họ sầu khổ thảm thiết và nghĩ rằng:

‘Nếu phụ thân còn ở đây, cha sẽ từ mẫn và có thể cứu hộ chúng ta. Giờ thì phụ thân đã bỏ lại chúng ta mà chết nơi tha phương, đám cô nhi chúng ta phải biết cậy nương nơi nào!’

Trong lòng chúng luôn bùi ngùi thương cảm nhớ nhung, họ liền sực nhớ đến toa thuốc sắc hương mỹ vị của cha để lại, nên lập tức lấy dùng và độc bệnh liền trừ sạch. Khi nghe các con đã hoàn toàn lành bệnh, người cha vội quay về và họ đều trông thấy cha mình.

Các thiện nam tử! Ý các ông nghĩ sao? Có ai sẽ bảo rằng vị lương y này đã phạm tội nói dối không?”

“Dạ không, thưa Thế Tôn!”

Đức Phật bảo:

“Như Lai cũng lại như vậy. Ta đã thành Phật từ vô lượng vô biên tỷ ức nayuta kiếp về trước. Vì chúng sanh nên mới dùng sức phương tiện mà nói là sẽ diệt độ. Cũng không ai có thể bảo rằng, lời thuyết Pháp của Ta như thế là nói dối.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Từ khi Ta thành Phật
Số kiếp đã trải qua
Vô lượng tỷ ức năm
Vô số chẳng kể xiết
Luôn thuyết Pháp giáo hóa
Vô số ức chúng sanh
Khiến vào trong Phật Đạo

Trải qua vô lượng kiếp
Vì hóa độ chúng sanh
Phương tiện hiện tịch diệt
Nhưng thật chẳng diệt độ
Thường trụ thuyết giảng Pháp

Thường trụ ở nơi đây
Dùng các sức thần thông
Khiến điên đảo chúng sanh
Tuy gần mà chẳng thấy

Họ thấy Ta diệt độ
Rộng cúng dường xá-lợi
Đều quyến luyến nhớ thương
Mà sanh lòng khát ngưỡng

Chúng sanh sẽ tín thọ
Nhu hòa ý ngay thẳng
Nhất tâm muốn thấy Phật
Thân mạng chẳng luyến tiếc

Khi đó Ta cùng Tăng
Đều ở núi Thứu Phong
Lúc đó Ta bảo họ
‘Luôn ở đây chẳng diệt’

Do dùng sức phương tiện
Hiện diệt và không diệt
Cõi khác có chúng sanh
Kính tin lòng mong mỏi

Lại ở cõi nước kia
Ta thuyết Pháp vô thượng
Nhưng các ông chẳng nghe
Nghĩ Ta đã diệt độ

Ta thấy các chúng sanh
Đắm chìm trong khổ não
Ta không vội hiện thân
Khiến họ sanh khát ngưỡng

Khi lòng họ quyến luyến
Mới xuất hiện thuyết Pháp

Sức thần thông như thế
Cho đến vô số kiếp
Luôn ở núi Thứu Phong
Cùng những trú xứ khác

Chúng sanh thấy kiếp tận
Bị lửa lớn thiêu đốt
Cõi nước Ta an ổn
Trời người luôn đầy khắp

Viên lâm những lầu các
Muôn châu báu trang nghiêm
Cây báu nhiều hoa quả
Nơi chúng sanh vui chơi

Chư thiên đánh trống trời
Thường trỗi các âm nhạc
Mưa hoa vi diệu âm
Rải Phật cùng đại chúng

Tịnh độ Ta chẳng hủy
Nhưng họ thấy thiêu sạch
Lo sợ với khổ não
Như thế thảy đầy khắp

Chúng sanh nghiệp tội đó
Do nghiệp ác nhân duyên
Suốt cả vô số kiếp
Không nghe tên Tam Bảo

Những ai tu công đức
Nhu hòa lòng ngay thẳng
Họ đều thấy thân Ta
Ở nơi đây thuyết Pháp

Có lúc vì đại chúng
Nói Phật thọ vô lượng
Rất lâu mới thấy Phật
Nói Phật rất khó gặp

Trí lực Ta như thế
Tuệ quang chiếu vô lượng
Thọ mạng vô số kiếp
Từ lâu đã tu chứng

Các ông ai có trí
Việc này chớ sanh nghi
Đoạn trừ sạch vĩnh viễn
Lời Phật tuyệt chẳng hư

Như thầy thuốc phương tiện
Vì chữa trị cuồng tử
Còn sống mà bảo chết
Chẳng thể nói hư vọng

Như người cha thế gian
Ta cứu khổ trừ hoạn
Vì phàm phu điên đảo
Vẫn còn nhưng nói diệt

Nếu họ thường thấy Ta
Lười biếng lòng kiêu căng
Buông lung tham năm dục
Sẽ đọa trong đường ác

Ta biết rõ chúng sanh
Hành Đạo chẳng hành Đạo
Tùy căn cơ hóa độ
Mà nói đủ mọi Pháp

Ta luôn nghĩ như vầy
‘Làm sao khiến chúng sanh
Được vào vô thượng trí
Mau thành tựu thân Phật?'”

♦ PHẨM 17: PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC

Khi đại chúng nghe Phật nói về số kiếp thọ mạng lâu dài như thế, lúc đó có vô lượng vô biên vô số chúng sanh được sự lợi ích lớn.

Khi ấy Thế Tôn bảo Từ Thị Đại Bồ-tát:

“Này Vô Năng Thắng! Khi Ta nói về thọ mạng lâu dài của Như Lai, lúc ấy có 6,8 triệu ức nayuta Hằng Hà sa chúng sanh đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát gấp 1.000 lần số trên đắc môn Văn Trì Tổng Trì.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần của một thế giới đắc Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện Tài.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần của một thế giới đắc Bách Thiên Vạn Ức Vô Lượng Toàn Tổng Trì.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần của một Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới có thể chuyển Pháp luân không thoái chuyển.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần của một trung thiên thế giới có thể chuyển thanh tịnh Pháp luân.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần của một tiểu thiên thế giới sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sau tám lần sanh nữa.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần gấp bốn lần của một tứ thiên hạ sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sau bốn lần sanh nữa.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần gấp ba lần của một tứ thiên hạ sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sau ba lần sanh nữa.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần gấp hai lần của một tứ thiên hạ sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sau hai lần sanh nữa.

Lại có số lượng chư đại Bồ-tát bằng số vi trần của một tứ thiên hạ sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sau một lần sanh nữa.

Lại có số lượng chúng sanh bằng số vi trần của tám thế giới đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

Khi Phật nói về các sự lợi ích to lớn nơi Pháp mà chư đại Bồ-tát đã chứng đắc, lúc đó ở trong hư không mưa xuống hoa vi diệu âm và hoa vi diệu âm lớn. Hoa rơi xuống chỗ của vô lượng tỷ ức chư Phật đang ngồi trên tòa sư tử ở dưới cây báu. Ở trong tháp bảy báu, hoa cũng rơi lên Đức Phật Năng Tịch đang ngồi trên tòa sư tử và Đức Phật Đa Bảo đã diệt độ từ lâu. Hoa cũng rơi lên tất cả chư đại Bồ-tát và bốn chúng đệ tử.

Lại mưa xuống bột hương đàn mịn nhỏ, hương trầm thủy và những loại hương khác. Ở trong hư không, tự nhiên có trống trời trỗi lên và diệu âm của chúng vang xa thăm thẳm.

Lại mưa xuống 1.000 loại thiên y được kết bằng các xâu chuỗi anh lạc, như là: trân châu anh lạc, như ý châu anh lạc, và như ý anh lạc. Ở khắp chín phương, có nhiều loại lư hương báu với những nén hương vô giá được đốt lên. Mùi hương tự nhiên lan tỏa biến khắp đại hội để cúng dường.

Ở phía trên của mỗi Đức Phật có chư Bồ-tát cầm tràng phan và lọng che. Họ đứng hầu ở bên trên và trải dài theo thứ tự đến tận cõi Phạm Thiên. Với thanh âm vi diệu, chư Bồ-tát này ca vịnh vô lượng bài kệ để tán thán chư Phật.

Lúc bấy giờ Từ Thị Bồ-tát từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, chắp tay hướng Phật và nói kệ rằng:

“Phật thuyết Pháp hiếm có
Xưa chưa hề nghe qua
Thế Tôn có đại lực
Thọ mạng chẳng thể lường

Vô số các Phật tử
Nghe Thế Tôn phân biệt
Nói ai đắc Pháp gì
Khắp toàn thân hoan hỷ

Hoặc trụ không thoái chuyển
Hoặc chứng đắc tổng trì
Hoặc Nhạo Thuyết Vô Ngại
Vạn Ức Toàn Tổng Trì

Hoặc có Đại Thiên Giới
Vi trần số Bồ-tát
Mỗi vị đều có thể
Lăn chuyển Chánh Pháp luân

Lại có trung thiên giới
Vi trần số Bồ-tát
Mỗi vị đều có thể
Chuyển thanh tịnh Pháp luân

Lại có tiểu thiên giới
Vi trần số Bồ-tát
Sau tám lần sanh nữa
Sẽ được thành Phật Đạo

Lại có bốn ba hai
Gấp một tứ thiên hạ
Vi trần số Bồ-tát
Tùy lần sanh thành Phật

Hoặc một tứ thiên hạ
Vi trần số Bồ-tát
Sau một lần sanh nữa
Sẽ thành Nhất Thiết Trí

Các chúng sanh như thế
Nghe Phật thọ dài lâu
Được vô lượng vô lậu
Cùng quả báo thanh tịnh

Lại có tám thế giới
Vi trần số chúng sanh
Nghe Phật nói thọ mạng
Đều phát tâm vô thượng

Thế Tôn thuyết vô lượng
Pháp chẳng thể nghĩ bàn
Mang đến nhiều lợi ích
Vô biên như hư không

Mưa hoa vi diệu âm
Hoa vi diệu âm lớn
Chư thiên như Hằng sa
Vô số cõi Phật đến

Mưa hương đàn trầm thủy
Rơi rực rỡ len lỏi
Như chim bay hạ xuống
Rải cúng dường chư Phật

Trống trời trong hư không
Tự nhiên vang diệu âm
Thiên y ngàn vạn loại
Xoay lượn rơi nhẹ xuống

Lư hương vi diệu báu
Đốt lên hương vô giá
Tự nhiên lan tỏa khắp
Cúng dường chư Thế Tôn

Chư đại Bồ-tát đó
Cầm phan lọng bảy báu
Cao đẹp vạn ức loại
Thứ tự đến Phạm Thiên

Ở mỗi trước chư Phật
Treo tràng báu thắng phan
Cũng dùng ngàn vạn kệ
Ca vịnh chư Như Lai

Muôn thứ việc như thế
Xưa nay chưa từng có
Nghe Phật thọ vô lượng
Hết thảy đều hoan hỷ

Phật danh thấu mười phương
Rộng lợi ích chúng sanh
Đầy đủ mọi căn lành
Giúp phát tâm vô thượng”

Lúc bấy giờ Phật bảo Từ Thị Đại Bồ-tát:

“Này Vô Năng Thắng! Nếu có chúng sanh nào nghe về thọ mạng lâu dài của Phật như thế, thậm chí như có thể sanh một niệm tín giải thì công đức đạt được sẽ không có hạn lượng.

Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào vì Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ngoại trừ Diệu Tuệ Độ, họ tu hành năm Pháp Đến Bờ Kia, như là: Bố Thí Độ, Trì Giới Độ, Nhẫn Nhục Độ, Tinh Tấn Độ, và Thiền Định Độ suốt 800.000 ức nayuta kiếp. Công đức ở trước mà so với công đức này thì một phần trăm, một phần ngàn, một phần của tỷ ức cũng không bằng một, cho đến dùng toán số thí dụ cũng chẳng thể biết.

Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào có được công đức dường ấy mà sẽ thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì quyết không thể có việc đó.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nếu ai cầu Phật trí
Suốt tám mươi vạn ức
Nayuta [na du ta] kiếp tu
Năm Pháp Đến Bờ Kia

Ở trong các kiếp này
Bố thí cúng dường Phật
Hàng đệ tử Duyên Giác
Và cùng chư Bồ-tát

Ẩm thực ngon lạ hiếm
Giường nệm y phục đẹp
Xây tinh xá hương đàn
Với viên lâm trang nghiêm

Sự bố thí như thế
Muôn thứ đều vi diệu
Đến trọn số kiếp đó
Hồi hướng về Phật Đạo

Nếu lại trì giới cấm
Thanh tịnh chẳng khiếm khuyết
Chí cầu Đạo vô thượng
Chư Phật đều ngợi khen

Nếu lại hành nhẫn nhục
Trụ ở địa điều nhu
Dù kẻ ác đến phá
Tâm họ chẳng động dao

Có những người đắc Pháp
Ôm lòng tăng thượng mạn
Khinh khi não hại họ
Như thế cũng đều nhẫn

Nếu lại siêng tinh tấn
Chí niệm luôn kiên cố
Trong vô lượng ức kiếp
Nhất tâm chẳng biếng lười

Lại ở vô số kiếp
Trú ở nơi hoang vắng
Hoặc ngồi hay kinh hành
Quên ngủ luôn nhiếp tâm

Do bởi nhân duyên đó
Có thể sanh thiền định
Tám mươi ức vạn kiếp
An trụ tâm bất loạn

Với nhất tâm phước đó
Nguyện cầu Đạo vô thượng
‘Nguyện đắc Nhất Thiết Trí
Thông đạt mọi thiền định’

Người ấy sẽ ở trong
Suốt một tỷ ức kiếp
Tu các công đức đó
Như đã nói ở trên

Có thiện nam tín nữ
Nghe Ta nói thọ mạng
Dù chỉ một niệm tin
Phước ấy hơn người kia

Nếu ai thảy chẳng còn
Mọi nghi ngờ hối tiếc
Lòng tin sâu thoáng chốc
Phước sẽ được như thế

Nếu có chư Bồ-tát
Vô lượng kiếp tu hành
Nghe Ta nói thọ mạng
Sẽ có thể tín thọ

Những hành giả như thế
Đảnh thọ Kinh điển này
‘Nguyện con ở vị lai
Sống lâu độ chúng sanh

Như Thế Tôn hôm nay
Vua trong tộc Năng Nhân
Đạo Tràng sư tử hống
Thuyết Pháp không sợ hãi

Chúng con đời vị lai
Hết thảy đều tôn kính
Khi ngồi ở Đạo Tràng
Nói thọ mạng cũng vậy’

Nếu có ai tin sâu
Thanh tịnh lòng ngay thẳng
Đa văn khéo tổng trì
Tùy nghĩa giảng lời Phật

Các hành giả như thế
Việc này chẳng còn nghi

Lại nữa, Vô Năng Thắng! Nếu có ai nghe về thọ mạng lâu dài của Phật và thấu hiểu nghĩa thú đó, thì công đức có được của người này sẽ là không có hạn lượng và có thể phát khởi trí tuệ vô lượng của Như Lai. Huống nữa là rộng nghe Kinh này; hoặc bảo người khác nghe; tự mình thọ trì hay bảo người khác thọ trì; tự mình biên chép hay bảo người khác biên chép; hoặc dùng hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, tràng phan, lọng che, dầu thơm, hay đèn bơ để cúng dường Kinh này. Công đức của người này sẽ là vô lượng vô biên và có thể phát sanh Nhất Thiết Chủng Trí.

Này Vô Năng Thắng! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào nghe Ta nói về thọ mạng lâu dài, rồi sanh tâm tín giải sâu xa, họ sẽ liền thấy Phật luôn thuyết Pháp ở tại núi Thứu Phong cùng với chư đại Bồ-tát và hàng Thanh Văn thánh chúng vây quanh.

Lại thấy đất đai ở Thế giới Kham Nhẫn làm bằng lưu ly và bằng phẳng cực kỳ. Có vàng ở dưới sông tại châu Thắng Kim dùng để phân ranh giới cho tám con đường và trên ấy có những hàng cây báu. Các đài báu cùng lầu quán đều làm bằng châu báu và ở trong ấy đều có chư Bồ-tát.

Nếu ai có thể quán như thế, thì nên biết đây là tướng trạng của sự tín giải thâm sâu.

Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ, nếu ai khi nghe Kinh này mà khởi lòng tùy hỷ và không chê bai, thì phải biết đây là tướng trạng về sự tin hiểu thâm sâu. Huống chi là người thọ trì đọc tụng Kinh này, hết mực tôn kính và đội Như Lai trên đỉnh đầu của họ.

Này Vô Năng Thắng! Các thiện nam tử và thiện nữ nhân đó không cần vì Ta mà xây chùa dựng tháp, hoặc tạo lập chỗ ở hay làm bốn sự cúng dường cho chư Tăng.

Vì sao thế? Bởi các thiện nam tử và thiện nữ nhân đó do thọ trì đọc tụng Kinh điển này, nên họ đã xây chùa dựng tháp, đã tạo lập chỗ ở và cúng dường cho chư Tăng. Chính họ đã xây tháp bảy báu có xá-lợi của Phật. Tháp rộng và cao đến tận cõi Phạm Thiên. Trên tháp ấy treo các phan lọng và chuông báu. Họ đã dùng hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương bột, hương xoa, hương đốt, các loại âm nhạc, tiêu sáo, đàn hạc, đàn cầm, mọi giai điệu vũ khúc, và âm thanh vi diệu để ca vịnh tán thán. Người đó đã làm những sự cúng dường như thế suốt vô lượng ngàn vạn ức kiếp.

Này Vô Năng Thắng! Sau khi Ta diệt độ, nếu ai nghe Kinh điển này và có thể thọ trì, hoặc tự biên chép hay bảo người khác biên chép, tức là họ đã tạo lập chỗ ở cho chư Tăng. Họ đã dùng hương đàn màu đỏ để xây 32 chánh điện với độ cao bằng tám cây cọ. Pháp đường ấy cao rộng và trang nghiêm đẹp đẽ. Trong đó có trăm ngàn vị Bhikṣu đang ở trong ấy. Lại có viên lâm, ao tắm, nơi kinh hành, hang động để ngồi thiền, y phục ẩm thực, giường nệm thuốc thang, và tất cả nhạc cụ có đầy khắp trong ấy. Nơi chư Tăng cư trú, Pháp đường, và lầu các như thế, số ấy nhiều vô lượng đến vài tỷ ức, sẽ hiện ra ở trước để cúng dường Ta cùng các vị Bhikṣu.

Thế nên Ta mới nói rằng, sau khi Như Lai diệt độ, nếu có ai thọ trì đọc tụng và thuyết giảng cho người khác, hoặc tự biên chép hay bảo người khác biên chép và cúng dường Kinh này, thì họ không cần phải xây chùa dựng tháp, hoặc tạo lập chỗ ở hay cúng dường cho chư Tăng.

Hà huống lại có người có thể thọ trì Kinh này và còn làm luôn cả việc bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và diệu tuệ. Công đức của họ sẽ là tối thắng và nhiều vô lượng vô biên. Đây ví như hư không, đông tây nam bắc, bốn hướng phụ, cùng phương trên và phương dưới là vô lượng vô biên. Công đức của người này cũng lại như thế, là vô lượng vô biên và họ sẽ mau đạt đến Nhất Thiết Chủng Trí.

Nếu ai thọ trì đọc tụng Kinh này và thuyết giảng cho người khác, hoặc tự biên chép hay bảo người khác biên chép. Họ lại có thể xây chùa dựng tháp, cùng tạo lập chỗ ở cho chư Tăng, cúng dường và tán thán Thanh Văn thánh chúng. Họ còn dùng tỷ ức Pháp ngợi khen để tán thán công đức của Bồ-tát. Họ lại vì người khác mà dùng đủ mọi nhân duyên và tùy theo mỗi người mà giải thích Kinh Pháp Hoa này. Họ lại có thể trì giới thanh tịnh, sống hòa thuận với mọi người, nhẫn nhục, không nóng giận, và ý niệm kiên cố. Họ cũng luôn trân quý tọa thiền và đắc các thiền định thâm sâu. Họ cũng tinh tấn dũng mãnh, thu nhiếp mọi Pháp lành, các căn lanh lợi, đắc trí tuệ, và khéo trả lời những câu hỏi khó.

Này Vô Năng Thắng! Sau khi Ta diệt độ, nếu các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì đọc tụng Kinh điển này và cũng như lại có những công đức lành khác như thế, thì phải biết người ấy đã hướng về Đạo Tràng, gần kề Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và ngồi ở dưới gốc Đạo thụ.

Này Vô Năng Thắng! Các thiện nam tử và thiện nữ nhân đó, hoặc nơi họ ngồi, đứng, hay nơi họ đang đi, thì họ nên xây một ngôi tháp ở nơi đó. Hết thảy hàng trời người đều phải nên cúng dường như tháp của Phật.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Sau khi Ta diệt độ
Ai khéo trì Kinh này
Phước người ấy vô lượng
Như đã nói ở trên

Chính họ đã đầy đủ
Tất cả mọi cúng dường
Khởi xây tháp xá-lợi
Vật bảy báu trang nghiêm

Lầu các rộng cao hiển
Sừng sững đến Phạm Thiên
Chuông báu ngàn vạn ức
Gió thổi vang diệu âm

Lại ở vô lượng kiếp
Đã cúng dường tháp này
Hương hoa chuỗi anh lạc
Thiên y các âm nhạc

Thắp đèn dầu bơ thơm
Luôn chiếu sáng xung quanh
Đời ác trược Mạt Pháp
Ai khéo trì Kinh này
Như đã nói ở trên
Đầy đủ mọi cúng dường

Nếu khéo trì Kinh này
Tức như Phật hiện tại
Dùng Ngưu Đầu hương đàn
Xây nơi ở cúng dường

Ba mươi hai Pháp đường
Cao bằng tám cây cọ
Áo đẹp thức ăn ngon
Giường nệm đều trọn đủ

Trăm ngàn người ở đó
Viên lâm các ao tắm
Kinh hành, động ngồi thiền
Muôn thứ trang nghiêm đẹp

Nếu tâm ai tín giải
Thọ trì biên chép đọc
Hoặc bảo người biên chép
Và cúng dường Kinh này

Rải hương hoa hương bột
Hoa lài dâng cúng dường
Ngọc lan hoa giải thoát
Luôn thắp đèn dầu thơm

Họ cúng dường như thế
Được vô lượng công đức
Vô biên như hư không
Phước ấy cũng như vậy

Huống lại trì Kinh này
Cùng bố thí trì giới
Nhẫn nhục thích thiền định
Không sân không ác khẩu

Họ cung kính chùa tháp
Khiêm hạ chư Bhikṣu
Lìa xa lòng tự cao
Thường tư duy trí tuệ

Hỏi điều khó chẳng giận
Tùy thuận mà giảng giải
Nếu khéo tu hạnh này
Công đức chẳng thể lường

Nếu thấy Pháp sư này
Thành tựu đức như thế
Hãy rải hoa cõi trời
Thiên y đắp thân họ
Đầu đảnh lễ sát đất
Sanh tâm tưởng như Phật

Lại nên nghĩ như vầy
‘Không lâu đến Đạo thụ
Được vô lậu vô vi
Rộng lợi ích trời người’

Tại nơi vị ấy ở
Kinh hành hoặc nằm ngồi
Dù nói một bài kệ
Nên xây tháp nơi đó
Vi diệu đẹp trang nghiêm
Muôn vật để cúng dường

Phật tử trụ địa này
Thọ dụng như Đức Phật
Luôn ở tại trong ấy
Kinh hành cùng nằm ngồi”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 5

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 6

♦ PHẨM 18: TÙY HỶ CÔNG ĐỨC

Lúc bấy giờ Từ Thị Đại Bồ-tát bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào khi nghe Kinh Pháp Hoa này mà tùy hỷ, thì họ sẽ được bao nhiêu điều phước lợi?”

Liền nói kệ rằng:

“Sau khi Phật diệt độ
Nếu ai nghe Kinh này
Mà có thể tùy hỷ
Sẽ được bao nhiêu phước?”

Lúc bấy giờ Phật bảo Từ Thị Đại Bồ-tát:

“Này Vô Năng Thắng! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có những vị Bhikṣu [bíc su], Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, cùng bất kỳ người trí nào, hoặc già hay trẻ, và khi nghe Kinh này mà tùy hỷ, sau khi rời Pháp hội rồi đi đến nơi khác, như là nơi chư Tăng cư trú, hoặc ở tại nơi hoang vắng, thành ấp, đường sá, thôn xóm, hay cánh đồng, rồi mang những lời nghe được, vì cha mẹ, thân thuộc, và bạn bè tốt mà diễn nói tùy theo khả năng của họ. Khi những người này nghe xong và tùy hỷ, họ lại chuyển sang dạy người khác. Khi người khác nghe rồi, lại tùy hỷ và chuyển sang dạy tiếp. Triển chuyển như thế cho đến người thứ 50.

Này Vô Năng Thắng! Giờ Ta sẽ nói công đức về sự tùy hỷ của thiện nam tử hay thiện nữ nhân thứ 50 đó. Ông hãy lắng nghe!

Giả như trong bốn triệu ức vô số thế giới có những chúng sanh trong sáu đường sanh ra từ bốn loại–sanh ra từ trứng, sanh ra từ bào thai, sanh ra từ ẩm ướt, và sanh ra từ biến hóa–hoặc có hình, vô hình, có tưởng, vô tưởng, chẳng phải hoàn toàn có tưởng, hay chẳng phải hoàn toàn vô tưởng, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, và ở tại các loài chúng sanh như thế, nếu có người vì cầu phước mà cung cấp mọi thứ tùy theo điều ước muốn của mỗi chúng sanh, lại cho mỗi chúng sanh nào là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, các kỳ trân diệu bảo, cùng voi ngựa xe cộ, cung điện lầu các làm bằng bảy báu và số ấy đầy khắp châu Thắng Kim.

Vị đại thí chủ này bố thí như thế suốt 80 năm, rồi nghĩ như vầy:

‘Ta đã cho chúng sanh những vật yêu thích với tùy theo ý nguyện của họ. Tuy nhiên, các chúng sanh này đều đã già yếu, tuổi ngoài 80, tóc bạc và khuôn mặt nhăn nheo. Không bao lâu thì sẽ chết. Ta nên dùng Phật Pháp mà hướng dẫn họ.’

Và thế là, ngài liền tụ tập các chúng sanh này lại, rồi tuyên nói giáo Pháp để chỉ dạy và mang lợi ích an vui cho họ. Lập tức họ đều đắc Quả Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Hoàn, hay Đạo Ứng Chân, trừ sạch các hữu lậu, được tự tại trong hết thảy thiền định thâm sâu, và đầy đủ Tám Giải Thoát.

Ý ông nghĩ sao? Công đức của vị đại thí chủ này có nhiều chẳng?”

Ngài Từ Thị thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Công đức của người ấy rất nhiều và vô lượng vô biên. Dù vị thí chủ này chỉ cho chúng sanh tất cả đồ vui thích, thì công đức đã là vô lượng. Huống nữa lại khiến họ đắc Đạo Ứng Chân.”

Phật bảo ngài Từ Thị:

“Ta nay sẽ nói rõ cho ông biết. Người này lấy tất cả đồ vui thích để cho những chúng sanh trong sáu đường suốt bốn triệu ức vô số thế giới và lại khiến họ đắc Đạo Ứng Chân. Công đức có được của người ấy không bằng công đức của người thứ 50 nghe được một bài kệ trong Kinh Pháp Hoa và tùy hỷ, một phần trăm, một phần ngàn, một phần của tỷ ức phần cũng không bằng, cho đến toán số thí dụ cũng chẳng thể biết.

Này Vô Năng Thắng! Công đức tùy hỷ của người thứ 50 đã triển chuyển nghe được Kinh Pháp Hoa là vô lượng vô biên vô số. Huống nữa là người đầu tiên nghe từ trong Pháp hội và tùy hỷ. Phước đức của người đó lại càng trội hơn, vô lượng vô biên vô số, và không thể nào so sánh được.

Lại nữa, Vô Năng Thắng! Nếu có người vì Kinh này mà đi đến chỗ của chư Tăng cư trú, hoặc ngồi hay đứng, nghe và tín thọ chừng thoáng chốc, thì do nhân duyên của công đức ấy, khi sanh ra ở đời sau, họ sẽ được voi ngựa hảo hạng, xe cộ sang trọng, kiệu báu trân quý, và cho đến du hành trong cung điện cõi trời.

Nếu lại có người đang ngồi nghe giảng Pháp mà khi có người đến, họ khuyên bảo ngồi xuống nghe hoặc san sẻ chỗ ngồi, thì công đức của người này là sẽ chuyển thân được ngồi chỗ của Năng Thiên Đế, hoặc ngồi chỗ của Phạm Vương, hay ngồi chỗ của Chuyển Luân Thánh Vương.

Này Vô Năng Thắng! Nếu lại có người nói với người khác rằng:

‘Có một Kinh điển tên là Pháp Hoa. Chúng ta hãy cùng đến đó nghe đi.’

Người kia liền nghe theo và dù họ chỉ đi nghe chừng thoáng chốc, thì công đức của người khuyên bảo là sẽ vào đời sau được sanh cùng một nơi với Tổng Trì Bồ-tát, có trí tuệ và căn tánh lanh lợi.

Suốt một tỷ đời, họ sẽ không bao giờ bị câm ngọng, hơi thở không hôi, lưỡi luôn không có bệnh, và miệng cũng chẳng có bệnh.

Răng của họ sẽ không dơ, không bị đen, vàng khè, hay thưa thớt, hoặc chẳng bị thiếu hay rụng mất, sẽ chẳng bị không đều hay lòi xỉ.

Môi của họ sẽ không bị trề, cũng chẳng bị hóm, không thô kệch, không lở nứt, cũng không sứt mẻ, cũng không méo, không dày, không lớn, cũng không đen sì, và không có mọi điểm xấu.

Mũi của họ sẽ không mỏng dẹp và cũng không cong queo.

Sắc mặt của họ sẽ không đen, cũng không hẹp hay dài, cũng không lõm hay cong, và không có bất cứ mọi tướng nào mà chẳng vừa ý.

Môi, miệng, và răng đều xinh đẹp. Mũi dài, thẳng và cao. Khuôn mặt tròn trịa, chân mày dài, trán rộng, bằng phẳng, và đầy đủ nhân tướng. Ở mọi đời khi sanh ra, người ấy sẽ thấy Phật nghe Pháp và tín thọ lời dạy bảo.

Này Vô Năng Thắng! Ông xem đó, khuyên bảo một người đi nghe Pháp mà được công đức dường ấy. Huống nữa là nhất tâm nghe thuyết giảng, đọc tụng, rồi ở giữa đại chúng mà vì người khác phân biệt và như thuyết tu hành.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Như ai ở Pháp hội
Nghe được Kinh điển này
Dù chỉ một bài kệ
Tùy hỷ giảng cho người

Triển chuyển dạy như thế
Đến người thứ năm mươi
Người sau chót được phước
Ta nay sẽ phân biệt

Như có đại thí chủ
Cung cấp vô lượng chúng
Trọn suốt tám mươi năm
Tùy theo mỗi ước mong

Thấy tướng họ già suy
Tóc bạc mặt nhăn nheo
Răng rụng thân khô cằn

‘Họ không lâu sẽ chết
Ta nay nên dạy họ
Khiến được thành Đạo Quả’

Liền thuyết giảng phương tiện
Tịch diệt, Pháp chân thật

‘Thế gian đều chẳng bền
Như bọt nước ánh lửa
Các người đều phải nên
Mau sanh tâm nhàm chán’

Khi họ nghe giáo Pháp
Đều thành bậc Ứng Chân
Đầy đủ Sáu Thần Thông
Ba Minh Tám Giải Thoát

Người năm mươi sau cùng
Vui nghe một bài kệ
Phước người này hơn kia
Chẳng thể nào ví dụ

Triển chuyển nghe như thế
Phước ấy là vô lượng
Huống nữa trong Pháp hội
Người đầu tiên tùy hỷ

Nếu ai khuyên một người
Dẫn họ nghe Pháp Hoa
Nói ‘Kinh này thâm diệu
Ngàn vạn kiếp khó gặp’

Liền vâng theo đi nghe
Dù chỉ nghe một thoáng
Phước báo của người ấy
Ta nay phân biệt nói

Đời đời miệng không bệnh
Răng không thưa đen vàng
Môi không dày sứt lở
Không có tướng xấu thô

Lưỡi chẳng khô đen ngắn
Mũi cao đẹp dài thẳng
Vầng trán rộng bằng phẳng
Diện mạo thảy đoan nghiêm

Làm người thấy hoan hỷ
Hơi thở không hôi thối
Hương thơm hoa sen xanh
Thường từ miệng tỏa ra

Nếu đến chỗ Tăng trú
Muốn nghe Kinh Pháp Hoa
Thoáng nghe mà hoan hỷ
Ta nay nói phước đó

Đời sau trong trời người
Được voi ngựa xe đẹp
Kiệu trân bảo quý hiếm
Và ngồi cung điện trời

Nếu tại nơi giảng Pháp
Khuyên người ngồi nghe Kinh
Nhân duyên phước có được
Vua trời, ngôi Chuyển Luân

Hà huống nhất tâm nghe
Giảng giải nghĩa thú đó
Như thuyết mà tu hành
Phước ấy chẳng thể lường”

♦ PHẨM 19: CÔNG ĐỨC CỦA PHÁP SƯ

Lúc bấy giờ Phật bảo Thường Tinh Tấn Đại Bồ-tát:

“Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì Kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc hay tụng, hoặc thuyết giảng hay biên chép, người đó sẽ được 800 công đức của mắt, 1.200 công đức của tai, 800 công đức của mũi, 1.200 công đức của lưỡi, 800 công đức của thân, và 1.200 công đức của ý. Do các công đức đó trang nghiêm nên khiến sáu căn của họ đều thanh tịnh.

Khi vừa lọt lòng thì căn mắt của các thiện nam tử và thiện nữ nhân đó đã được thanh tịnh. Họ sẽ thấy trong ngoài của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, tất cả núi rừng và sông biển, dưới đến tận Địa ngục Vô Gián, trên lên đến trời Sắc Cứu Cánh. Lại cũng thấy hết thảy chúng sanh trong đó cùng nghiệp quả nhân duyên và nơi quả báo thọ sanh. Tất cả thảy đều thấy biết.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nếu ở giữa đại chúng
Với tâm không sợ hãi
Thuyết Kinh Pháp Hoa này
Hãy nghe công đức họ

Người này được tám trăm
Công đức mắt thù thắng
Bởi đức ấy trang nghiêm
Mắt họ rất thanh tịnh

Căn mắt lúc sanh ra
Tất thấy Tam Thiên Giới
Trong ngoài của Cao Sơn
Diệu Cao cùng Thiết Vi

Với các núi rừng khác
Biển cả nước sông hồ
Dưới đến ngục Vô Gián
Trên đến Sắc Cứu Cánh

Các chúng sanh trong đó
Tất cả đều trông thấy
Tuy chưa mở thiên nhãn
Sức nhục nhãn dường ấy

Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì Kinh này, hoặc đọc hay tụng, hoặc thuyết giảng hay biên chép, thì sẽ được 1.200 công đức của tai. Với căn tai thanh tịnh, họ sẽ nghe tận đến trong ngoài của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, dưới đến tận Địa ngục Vô Gián, trên lên đến trời Sắc Cứu Cánh.

Mọi âm thanh ngôn ngữ, tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng bò, tiếng xe, tiếng khóc lóc, tiếng than thở, tiếng loa, tiếng trống, tiếng chung, tiếng chuông, tiếng cười, tiếng nói, tiếng nam, tiếng nữ, tiếng bé trai, tiếng bé gái, tiếng Pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng thánh nhân, tiếng hoan hỷ, tiếng chẳng hoan hỷ, tiếng trời, tiếng rồng, tiếng quỷ tiệp tật, tiếng tầm hương thần, tiếng phi thiên, tiếng kim sí điểu, tiếng nghi thần, tiếng đại mãng xà, tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, tiếng địa ngục, tiếng bàng sanh, tiếng ngạ quỷ, tiếng Bhikṣu, tiếng Bhikṣuṇī, tiếng Thanh Văn, tiếng Độc Giác, tiếng Bồ-tát, và tiếng Phật.

Nói tóm lại, tuy chưa đắc thiên nhĩ nhưng họ đều có thể dùng căn tai thanh tịnh bình thường từ lúc mới sanh để nghe biết hết thảy mọi âm thanh trong ngoài của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Họ phân biệt muôn loại âm thanh như thế mà căn tai chẳng bị hư hoại.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Căn tai lúc sanh ra
Thanh tịnh không uế trược
Với tai phàm họ nghe
Âm thanh khắp Đại Thiên

Tiếng voi ngựa bò xe
Tiếng chung chuông loa trống
Tiếng đàn cầm đàn hạc
Tiếng tiêu tiếng sáo thổi

Tiếng thanh tịnh ca hay
Họ nghe nhưng chẳng nhiễm
Vô số tiếng của người
Thảy đều nghe biết hết

Lại nghe tiếng chư thiên
Tiếng ca xướng vi diệu
Cùng nghe tiếng gái trai
Và tiếng các em bé

Giữa sông núi hiểm cốc
Tiếng hót chim diệu thanh
Các loài chim mạng mạng
Thảy nghe tiếng của chúng

Nỗi thống khổ địa ngục
Muôn thứ tiếng ghê rợn
Ngạ quỷ khổ đói khát
Tiếng van nài ẩm thực

Và các loài phi thiên
Sống tại bờ biển cả
Khi tranh luận với nhau
Phát ra âm thanh lớn

Người thuyết Pháp như thế
An trụ ở nơi đó
Từ xa nghe mọi tiếng
Mà căn tai chẳng hoại

Trong mười phương thế giới
Chim thú réo gọi nhau
Nhưng người thuyết Pháp này
Tất cả thảy đều nghe

Các vị trời Đại Phạm
Quang Âm cùng Biến Tịnh
Cho đến Sắc Cứu Cánh
Ngôn ngữ và âm thanh
Pháp sư trú nơi đây
Tất cả thảy đều nghe

Hết thảy các Bhikṣu
Cùng với Bhikṣuṇī
Nếu đọc tụng Kinh điển
Hoặc giảng cho người khác
Pháp sư trú nơi đây
Tất cả thảy đều nghe

Lại có chư Bồ-tát
Đọc tụng Kinh Pháp Phật
Hoặc giảng cho người khác
Hay soạn tập giải nghĩa
Các âm thanh như thế
Tất cả thảy đều nghe

Chư Phật Đại Thánh Tôn
Ngài giáo hóa chúng sanh
Ở trong các đại hội
Diễn nói Pháp vi diệu
Hành giả trì Pháp Hoa
Tất cả thảy đều nghe

Tam Thiên Đại Thiên Giới
Trong ngoài mọi thanh âm
Dưới đến ngục Vô Gián
Trên đến Sắc Cứu Cánh
Đều nghe âm thanh đó
Mà căn tai chẳng hoại

Do tai họ lanh lợi
Thảy đều có thể biết
Ai trì Pháp Hoa này
Tuy chưa đắc thiên nhĩ
Chỉ dùng tai lúc sanh
Công đức đã như vậy

Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì Kinh này, hoặc đọc hay tụng, hoặc thuyết giảng hay biên chép, thì sẽ thành tựu 800 công đức của mũi. Với căn mũi thanh tịnh, họ sẽ ngửi đến trên dưới trong ngoài của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.

Mọi thứ mùi hương: hương hoa lài, hương hoa kim tiền, hương hoa hoàng sắc, hương hoa ngọc lan, hương hoa trùng sanh, hương hoa sen đỏ, hương hoa sen xanh, hương hoa sen trắng, hương cây hoa, hương cây trái, hương đàn, hương trầm thủy, hương hoắc diệp, hương mộc, cùng ngàn vạn loại hương trộn, như là hương bột, hương viên, hay hương xoa. Dù người thọ trì Kinh này trú tại nơi đây, nhưng thảy đều có thể phân biệt.

Họ còn phân biệt được mùi hương của chúng sanh, hương voi, hương ngựa, hương bò, hương dê, hương nam, hương nữ, hương bé trai, hương bé gai, cùng hương cỏ cây và rừng rậm. Tất cả mùi hương, hoặc gần hay xa, họ tất đều phân biệt và ngửi được mà không bị lẫn lộn.

Dù người thọ trì Kinh này trú tại nơi đây, nhưng cũng ngửi được mùi hương của chư thiên trên cõi trời, nào là hương của cây hương biến và cây địa phá, cùng hương hoa vi diệu âm, hương hoa vi diệu âm lớn, hương hoa nhu nhuyễn, hương hoa nhu nhuyễn lớn, hương đàn, hương trầm thủy, muôn loại hương bột, và các loại hương hoa hỗn tạp. Các mùi hương cõi trời như thế, hương lan tỏa ra hay hòa quyện với nhau, không một loại hương nào khi ngửi mà chẳng biết.

Người ấy cũng ngửi được mùi hương trên thân của chư thiên, mùi hương của Năng Thiên Đế ở trên Cung điện Thù Thắng khi ngài đùa giỡn và vui sướng năm dục. Hoặc mùi hương ở tại Giảng đường Thiện Pháp khi ngài thuyết Pháp cho chư thiên trên trời Tam Thập Tam. Hoặc mùi hương khi ngài vui chơi ở những khu vườn. Họ cũng ngửi được mùi hương trên thân của các thiên tử và những thiên nữ khác. Hết thảy đều ngửi được từ xa.

Triển chuyển như vậy cho đến cõi Phạm Thiên và lên đến chư thiên ở trời Sắc Cứu Cánh, người ấy cũng đều ngửi được mùi hương trên thân và cũng như hương đốt của chư thiên. Mùi hương của Thanh Văn, mùi hương của Độc Giác, mùi hương của Bồ-tát, và mùi hương trên thân của chư Phật, tất cả cũng đều ngửi được từ xa và biết mùi hương đó ở nơi nào. Tuy ngửi những mùi hương này nhưng căn mũi của họ sẽ chẳng bị hư hoại hay sai lầm. Nếu người ấy muốn phân biệt và thuyết giảng cho người khác thì trí nhớ của họ sẽ chẳng hề nhầm lẫn.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Mũi người ấy thanh tịnh
Ở trong thế giới này
Hương thơm hay mùi hôi
Tất cả đều ngửi biết

Hoa lài hoa kim tiền
Hoắc diệp hương đàn thơm
Trầm thủy với quế hương
Muôn loại hương hoa quả

Cũng biết hương chúng sanh
Hương người nam người nữ
Người thuyết Pháp nơi xa
Ngửi hương biết từ đâu

Đại thế Chuyển Luân Vương
Tiểu Luân Vương cùng con
Quần thần với cung phi
Ngửi hương biết từ đâu

Trân bảo đeo trên thân
Cùng kho tàng trong đất
Bảo nữ vua Chuyển Luân
Ngửi hương biết từ đâu

Đồ trang sức trên thân
Y phục chuỗi anh lạc
Muôn thứ loại hương xoa
Ngửi hương biết của ai

Chư thiên đi hay ngồi
Họ dạo chơi biến hóa
Người thọ trì Pháp Hoa
Ngửi hương đều tất biết

Cây cối với hoa quả
Mùi dầu hương của bơ
Người trì Kinh ở đây
Thảy đều biết từ đâu

Rừng rậm rạp hung hiểm
Cây hương đàn nở hoa
Chúng sanh trú trong đó
Ngửi hương đều tất biết

Biển cả núi Thiết Vi
Chúng sanh ở trong đất
Người trì Kinh ngửi hương
Tất biết họ ở đâu

Phi thiên nam và nữ
Cùng quyến thuộc của họ
Lúc đấu tranh rong chơi
Ngửi hương đều tất biết

Nơi hoang dã hiểm trở
Sư tử voi cọp sói
Bò rừng với trâu nước
Ngửi hương biết từ đâu

Nếu có người mang thai
Chưa biết nam hay nữ
Quái vật hay phi nhân
Ngửi hương đều tất biết

Bằng vào sức ngửi hương
Họ biết người mang thai
Thành tựu chẳng thành tựu
An vui sanh con thảo

Bằng vào sức ngửi hương
Biết tâm niệm gái trai
Lòng nhiễm tham sân si
Cũng biết người tu thiện

Kho tàng giấu dưới đất
Vàng bạc các trân bảo
Đựng trong hũ bằng đồng
Ngửi hương đều tất biết

Muôn loại chuỗi anh lạc
Giá trị chẳng thể biết
Ngửi hương biết mắc rẻ
Xuất xứ cùng ở đâu

Tất cả hoa trên trời
Cùng hoa vi diệu âm
Nhu nhuyễn, cây hương biến
Ngửi hương đều tất biết

Các cung điện trên trời
Thượng trung hạ sai khác
Những hoa báu trang nghiêm
Ngửi hương đều tất biết

Vườn trời, Thù Thắng Điện
Lầu quán, Thiện Pháp Đường
Vui chơi ở trong đó
Ngửi hương đều tất biết

Lúc chư thiên nghe Pháp
Hoặc khi thọ năm dục
Đến đi đứng nằm ngồi
Ngửi hương đều tất biết

Quần áo thiên nữ mặc
Hương hoa quý trang nghiêm
Lúc bay lượn vui chơi
Ngửi hương đều tất biết

Triển chuyển lên như thế
Cho đến cõi Phạm Thiên
Ai nhập thiền xuất thiền
Ngửi hương đều tất biết

Quang Âm, trời Biến Tịnh
Cho đến Sắc Cứu Cánh
Mới sanh hay mạng chung
Ngửi hương đều tất biết

Chư Bhikṣu đại chúng
Thường tinh tấn nơi Pháp
Hoặc ngồi hay kinh hành
Cùng đọc tụng Kinh điển

Hoặc dưới cây trong rừng
Chuyên chú siêng tọa thiền
Người trì Kinh ngửi hương
Tất biết họ ở đâu

Bồ-tát tâm kiên cố
Tọa thiền hay đọc tụng
Hoặc thuyết Pháp cho người
Ngửi hương đều tất biết

Thế Tôn ở nơi nào
Tất cả đều cung kính
Ngài từ mẫn thuyết Pháp
Ngửi hương đều tất biết

Chúng sanh ở trước Phật
Nghe Kinh đều hoan hỷ
Như Pháp mà tu hành
Ngửi hương đều tất biết

Tuy chưa thành Bồ-tát
Mũi lúc sanh vô lậu
Người thọ trì Kinh đây
Đã có tướng mũi ấy

Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì Kinh này, hoặc đọc hay tụng, hoặc thuyết giảng hay biên chép, thì sẽ được 1.200 công đức của lưỡi. Hết thảy mọi thứ khi họ nếm, là ngon hay dở, là vị đắng hay thô nhám, thì đều biến thành thượng vị như cam lộ cõi trời, không gì là chẳng ngon ngọt. Nếu họ thuyết giảng ở giữa đại chúng với căn lưỡi này, thì từ miệng của người ấy sẽ phát ra âm thanh vi diệu, có thể vào tâm của đại chúng, và khiến đều hoan hỷ vui sướng.

Lại nữa, khi các thiên tử, thiên nữ, Năng Thiên Đế, Phạm Vương cùng chư thiên nghe âm thanh vi diệu thâm sâu và ngôn luận thứ tự của họ thuyết giảng, thì thảy đều đến nghe.

Tất cả rồng, long nữ, quỷ tiệp tật, quỷ tiệp tật nữ, tầm hương thần, tầm hương thần nữ, phi thiên, phi thiên nữ, kim sí điểu, kim sí điểu nữ, nghi thần, nghi thần nữ, đại mãng xà, cùng đại mãng xà nữ, họ vì nghe Pháp nên đều đến thân cận và cung kính cúng dường.

Các vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ; quốc vương, vương tử, quần thần, và quyến thuộc; cùng tiểu Chuyển Luân Vương, đại Chuyển Luân Vương, bảy báu với 1.000 con trai, và nội ngoại quyến thuộc của Luân Vương đều ngồi cung điện để đến nghe Pháp. Bởi vị Bồ-tát này khéo thuyết Pháp nên các Phạm Chí, cư sĩ, và dân chúng trong nước suốt đời theo hầu cận và cúng dường.

Lại nữa, Thanh Văn, Độc Giác, Bồ-tát, và chư Phật sẽ luôn vui mến thấy họ. Bất kỳ người này đang ở hướng nào, chư Phật đều hướng về nơi đó thuyết Pháp. Họ đều có thể thọ trì tất cả Phật Pháp và cũng có thể tuyên nói Pháp âm vi diệu sâu xa.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Căn lưỡi người này tịnh
Chẳng hề nếm vị xấu
Bất kỳ ăn thứ gì
Thảy đều thành cam lộ

Với tiếng tịnh vi diệu
Thuyết Pháp cho đại chúng
Dùng nhân duyên thí dụ
Dẫn đạo tâm chúng sanh

Người nghe đều hoan hỷ
Cúng dường thượng phẩm vật
Trời rồng quỷ tiệp tật
Phi thiên các loài khác
Đều với lòng cung kính
Họ đồng đến nghe Pháp

Người này khi thuyết Pháp
Như muốn dùng diệu âm
Biến khắp Tam Thiên Giới
Tùy ý liền có thể

Đại tiểu Chuyển Luân Vương
Ngàn con trai quyến thuộc
Chắp tay lòng cung kính
Luôn đến nghe thọ Pháp

Trời rồng quỷ tiệp tật
Bạo ác, quỷ hút tinh
Cũng với tâm hoan hỷ
Luôn thích đến cúng dường

Phạm Thiên Vương, ma vương
Tự Tại, Đại Tự Tại
Các thiên chúng như thế
Luôn đến nơi họ ở

Chư Phật cùng đệ tử
Nghe Pháp âm họ nói
Thường niệm và bảo hộ
Có lúc sẽ hiện thân

Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì Kinh này, hoặc đọc hay tụng, hoặc thuyết giảng hay biên chép, thì sẽ được 800 công đức của thân. Họ sẽ được thân thể thanh tịnh như lưu ly trong sáng. Do thân người ấy thanh tịnh nên khi chúng sanh nhìn thấy thì liền yêu mến.

Chúng sanh trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới–lúc sanh hay chết, sang hèn hay đẹp xấu, sanh ở nơi an lành hay ở nơi xấu ác–thảy đều hiện ở trong thân người ấy. Núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, Cao Sơn, Đại Cao Sơn, và các núi non khác cùng những chúng sanh trong đó, thảy đều hiện ở trong thân người ấy. Dưới đến tận Địa ngục Vô Gián, trên lên đến trời Sắc Cứu Cánh, chúng sanh trong đó đều hiện ở trong thân người ấy. Thanh Văn, Độc Giác, Bồ-tát, và chư Phật đang thuyết Pháp cũng đều hiện ra chân dung của các ngài ở trong thân người ấy.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Nếu ai trì Pháp Hoa
Thân họ rất thanh tịnh
Thanh tịnh như lưu ly
Chúng sanh đều vui thấy

Lại như gương trong sáng
Tất thấy mọi hình sắc
Bồ-tát ở trong đó
Đều thấy khắp thế giới
Chỉ riêng họ hiểu rõ
Người khác chẳng thể thấy

Khắp Đại Thiên Thế Giới
Hết thảy quần manh loại
Trời người chúng phi thiên
Địa ngục quỷ bàng sanh
Mọi hình sắc như thế
Đều hiện trong thân họ

Các cung điện chư thiên
Cho đến Sắc Cứu Cánh
Thiết Vi với Cao Sơn
Cùng với Đại Cao Sơn
Nước của các biển lớn
Đều hiện trong thân họ

Chư Phật cùng Thanh Văn
Phật tử chư Bồ-tát
Một mình hay tại chúng
Thuyết Pháp thảy đều hiện

Tuy chưa được vô lậu
Diệu thân của Pháp tánh
Với thân phàm thanh tịnh
Tất cả hiện ở trong

Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thọ trì Kinh này, hoặc đọc hay tụng, hoặc thuyết giảng hay biên chép, thì sẽ được 1.200 công đức của ý. Với căn ý thanh tịnh, dù chỉ nghe một bài kệ hay một câu thì họ cũng thông đạt vô lượng vô biên nghĩa thú. Khi đã hiểu nghĩa lý đó rồi, họ sẽ có thể diễn nói một bài kệ hay một câu suốt một tháng, bốn tháng, hoặc cho đến một năm.

Tất cả Pháp mà người ấy thuyết giảng đều sẽ tùy thuận nghĩa thú và không trái nghịch với thật tướng. Nếu họ nói về kinh thư của thế tục, thảo luận về đạo lý trị thế, hay làm việc để sinh sống, thì đều tùy thuận Chánh Pháp.

Sự tu hành của tâm, việc làm của tâm, và hí luận của tâm mà hết thảy chúng sanh ở sáu đường trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, họ đều tất biết. Tuy chưa đắc trí tuệ vô lậu nhưng căn ý của họ đã thanh tịnh như thế. Điều suy tư, tính toán, và lời nói của người ấy đều là Phật Pháp–không gì là chẳng chân thật. Tất cả lời của họ là lời trong Kinh mà chư Phật trước đã nói.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Ý người này thanh tịnh
Sáng suốt không uế trược
Với căn ý vi diệu
Biết Pháp thượng trung hạ

Dù nghe một bài kệ
Thông đạt vô lượng nghĩa
Nói thứ tự như Pháp
Suốt một, bốn tháng, năm

Trong ngoài thế giới này
Hết thảy các chúng sanh
Là trời rồng hay người
Quỷ thần, quỷ tiệp tật
Chúng ở trong sáu đường
Muôn ý niệm sai khác
Quả báo người trì Kinh
Đồng một lúc biết hết

Mười phương vô số Phật
Trăm phước tướng trang nghiêm
Thuyết Pháp cho chúng sanh
Đều nghe khéo thọ trì

Tư duy vô lượng nghĩa
Thuyết Pháp cũng vô lượng
Đầu cuối chẳng sai lầm
Đây bởi trì Pháp Hoa

Hiểu rõ mọi pháp tướng
Biết thứ tự tùy nghĩa
Thông đạt mọi ngôn từ
Diễn nói điều đã hiểu

Người này nói điều chi
Đều là Pháp Phật trước
Bởi diễn nói Pháp này
Giữa chúng chẳng sợ hãi

Người trì Kinh Pháp Hoa
Căn ý tịnh như thế
Tuy chưa được vô lậu
Đã có tướng như vậy

Người thọ trì Kinh này
An trụ địa hy hữu
Tất cả các chúng sanh
Hoan hỷ và yêu kính

Khéo dùng ngàn vạn loại
Ngôn ngữ lời khéo léo
Phân biệt để thuyết Pháp
Đây bởi trì Pháp Hoa”

♦ PHẨM 20: THƯỜNG BẤT KHINH BỒ-TÁT

Lúc bấy giờ Phật bảo Đắc Đại Thế Đại Bồ-tát:

“Ông nay nên biết rằng, nếu có những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ nào thọ trì Kinh Pháp Hoa mà có kẻ nói lời xấu ác, mắng chửi, hay phỉ báng thì sẽ chuốc lấy tội báo nghiêm trọng như đã nói ở trước. Công đức thanh tịnh có được từ mắt tai mũi lưỡi thân ý của người thọ trì như đã nói ở trên.

Này Đắc Đại Thế! Vào thuở quá khứ xa xưa vô lượng vô biên vô số kiếp chẳng thể nghĩ bàn, có Đức Phật hiệu là Uy Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Kiếp tên là Ly Suy. Quốc độ tên là Đại Thành.

Ở trong thế giới kia, Đức Phật Uy Âm Vương đã thuyết Pháp cho hàng trời, người, và phi thiên.

Vì người cầu Thanh Văn, Ngài ứng cơ thuyết Pháp Bốn Thánh Đế để họ thoát khỏi sanh già bệnh chết và đạt tới Cứu Cánh Tịch Diệt.

Vì người cầu Độc Giác, Ngài ứng cơ thuyết Pháp 12 Duyên Khởi.

Vì người cầu Bồ-tát và muốn dẫn họ vào Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài ứng cơ thuyết Pháp Sáu Độ để họ đạt tới trí tuệ cứu cánh của Phật.

Này Đắc Đại Thế! Thọ mạng của Đức Phật Uy Âm Vương là 400.000 ức nayuta [na du ta] Hằng Hà sa kiếp. Thời gian số kiếp Chánh Pháp trụ thế bằng như số vi trần của một châu Thắng Kim. Thời gian số kiếp Tượng Pháp trụ thế bằng như số vi trần của một tứ thiên hạ. Khi Đức Phật đó đã làm lợi ích cho chúng sanh xong, rồi sau đó Ngài vào tịch diệt.

Sau khi Chánh Pháp và Tượng Pháp đã hoàn toàn diệt mất, trong cõi nước đó cũng có một Đức Phật khác xuất hiện ở thế gian và cũng hiệu là Uy Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và lần lượt như vậy, có 20.000 ức chư Phật xuất hiện ở thế gian và đều đồng một danh hiệu.

Khi Đức Phật Uy Âm Vương tối sơ đã diệt độ và sau thời Chánh Pháp diệt mất, trong thời Tượng Pháp, hàng Bhikṣu tăng thượng mạn có thế lực lớn. Lúc bấy giờ có một vị Bhikṣu Bồ-tát tên là Thường Bất Khinh.

Này Đắc Đại Thế! Vì nhân duyên gì mà tên là Thường Bất Khinh? Bất kể thấy ai, là Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ, thì vị Bhikṣu này đều ngợi khen.

Ngài nói lời như vầy:

‘Tôi rất kính trọng và không dám khinh các ngài.

Vì sao thế? Bởi các ngài đều tu hành Đạo Bồ-tát và sẽ thành Phật.’

Vị Bhikṣu này không chuyên đọc tụng Kinh điển, mà chỉ thực hành lễ bái. Thậm chí nếu thấy vị nào trong bốn chúng đệ tử ở từ xa, ngài cũng cố đến và lễ bái ngợi khen.

Ngài nói lời như vầy:

‘Tôi chẳng dám khinh các ngài. Các ngài đều sẽ thành Phật.’

Trong bốn chúng đệ tử có kẻ tức giận, lòng bất tịnh và ác khẩu mắng chửi rằng:

‘Cái ông Bhikṣu vô trí này từ đâu đến mà tự nói là: “Tôi không dám khinh các ngài.” Lại còn thọ ký cho chúng ta sẽ thành Phật. Chúng ta cần gì cái thọ ký hư dối đó chứ!’

Nhiều năm trôi qua như vậy, tuy thường bị mắng chửi nhưng ngài vẫn không sanh lòng sân hận, mà còn luôn nói rằng:

‘Ngài sẽ thành Phật.’

Khi ngài nói lời ấy thì trong đại chúng có người dùng gậy đánh đập hoặc lấy ngói đá mà chọi.

Rồi ngài bỏ chạy đi, đứng ở từ xa và lớn tiếng hô rằng:

‘Tôi chẳng dám khinh các ngài. Các ngài đều sẽ thành Phật!’

Bởi luôn nói lời như thế, cho nên hàng tăng thượng mạn Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, và Thanh Tín Nữ mới đặt tên ngài là Thường Bất Khinh.

Khi vị Bhikṣu này sắp lâm chung, ở trong hư không, ngài nghe trọn đủ 200 triệu ức bài kệ trong Kinh Pháp Hoa của Đức Phật Uy Âm Vương ban sơ đã nói và đều có thể thọ trì. Rồi liền được căn mắt thanh tịnh, cùng với căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân, và căn ý cũng được thanh tịnh như đã nói ở trên. Khi sáu căn đã được thanh tịnh, thọ mạng của ngài tăng thêm hai triệu ức nayuta năm và ngài rộng giảng Kinh Pháp Hoa này cho người khác.

Bấy giờ, những ai tăng thượng mạn trong bốn chúng đệ tử–Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ–mà đã khinh chê và đặt tên ngài là Thường Bất Khinh. Lúc thấy ngài đắc sức đại thần thông, sức nhạo thuyết biện tài, và sức đại thiện tịch, khi nghe lời ngài nói, họ đều tín thuận và tùy tùng theo hầu. Vị Bồ-tát này lại giáo hóa ngàn vạn ức người và khiến họ trụ nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Sau khi mạng chung, ngài gặp được 2.000 ức chư Phật và đều cùng một hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Ở trong giáo Pháp của chư Phật ấy, ngài thuyết giảng Kinh Pháp Hoa này.

Do bởi nhân duyên đó, ngài lại gặp 2.000 ức chư Phật và đều đồng một hiệu là Vân Tự Tại Đăng Vương. Ở trong giáo Pháp của chư Phật ấy, ngài thọ trì đọc tụng và thuyết giảng Kinh điển này cho bốn chúng đệ tử, nên luôn được căn mắt thanh tịnh, cùng với căn tai, căn mũi, căn lưỡi, căn thân, và căn ý cũng được thanh tịnh. Ngài thuyết Pháp ở giữa bốn chúng đệ tử và tâm không sợ hãi.

Này Đắc Đại Thế! Vị Thường Bất Khinh Đại Bồ-tát này cúng dường chư Phật như thế. Ngài cung kính, tôn trọng, tán thán và gieo trồng mọi căn lành. Sau đó, ngài lại gặp ngàn vạn ức vị Phật và cũng ở trong giáo Pháp của chư Phật ấy mà thuyết giảng Kinh điển này. Khi công đức thành tựu, ngài đắc Đạo thành Phật.

Này Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao? Thường Bất Khinh Bồ-tát thuở đó nào có ai khác, chính là tiền thân của Ta đây. Nếu như Ta ở đời trước mà chẳng thọ trì đọc tụng Kinh này và thuyết giảng cho người khác, thì sẽ không thể nào đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do Ta ở chư Phật quá khứ đã thọ trì đọc tụng Kinh này và thuyết giảng cho người khác, nên mới mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này Đắc Đại Thế! Do bốn chúng đệ tử, gồm Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, và Thanh Tín Nữ ở thời đó đã dùng lòng sân hận khinh chê ta, trong 200 ức kiếp họ không thấy Phật, không nghe Pháp, và không gặp Tăng. Trong 1.000 kiếp ở tại Địa ngục Vô Gián để thọ khổ não tột cùng. Sau khi đã thọ xong tội báo, họ lại gặp Thường Bất Khinh Bồ-tát và được ngài giáo hóa để đạt đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao?

Bốn chúng đệ tử thuở đó thường khinh vị Bồ-tát này nào có ai khác, nay chính là 500 Bồ-tát của nhóm Hiền Hộ, 500 Bhikṣuṇī của nhóm Sư Tử Nguyệt, và 500 Thanh Tín Sĩ của nhóm Thiện Tư, đang hiện diện trong chúng hội này đây và tất cả đều không thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này Đắc Đại Thế! Phải biết Kinh Pháp Hoa này mang đến sự lợi ích lớn lao cho chư đại Bồ-tát, có thể khiến họ đạt tới Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì thế sau khi Như Lai diệt độ, chư đại Bồ-tát phải nên luôn thọ trì đọc tụng, thuyết giảng, và biên chép Kinh này.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Quá khứ có Đức Phật
Hiệu là Uy Âm Vương
Với thần trí vô lượng
Ngài dẫn đạo chúng sanh
Trời người rồng quỷ thần
Thảy đều cúng dường Ngài

Sau khi Phật diệt độ
Lúc Pháp sắp diệt mất
Có một vị Bồ-tát
Tên là Thường Bất Khinh

Hàng bốn chúng thời đó
Chấp trước vào nơi Pháp
Thường Bất Khinh Bồ-tát
Liền đi đến chỗ họ
Mà nói lời thế này

‘Tôi không dám khinh chê
Bởi các ngài tu hành
Đều sẽ được thành Phật’

‘Khi họ nghe nói xong
Hủy báng và mắng chửi
Thường Bất Khinh Bồ-tát
Có thể nhẫn chịu hết

Khi tội báo đã tận
Lúc sắp gần mạng chung
Ngài nghe được Kinh này
Sáu căn đều thanh tịnh

Do bởi sức thần thông
Thọ mạng ngài tăng thêm
Lại vì những người khác
Rộng giảng Kinh Pháp này

Các đại chúng chấp Pháp
Đều nhờ ơn Bồ-tát
Giáo hóa họ thành tựu
Khiến trụ trong Phật Đạo

Thường Bất Khinh mạng chung
Gặp được vô số Phật
Do thuyết giảng Kinh này
Được vô lượng phước đức

Dần dần đủ công đức
Ngài mau thành Phật Đạo
Thường Bất Khinh thuở đó
Chính là thân Ta đây

Hàng bốn chúng thuở ấy
Những người chấp nơi Pháp
Nghe Thường Bất Khinh nói
‘Các ngài sẽ thành Phật’

Do bởi nhân duyên đó
Gặp được vô số Phật
Chính là năm trăm vị
Bồ-tát ở chúng hội
Cùng bốn chúng đệ tử
Và thiện nam tín nữ
Bây giờ ở trước Ta
Đang lắng nghe thuyết Pháp

Ta đã ở đời trước
Khuyên bảo các người đó
Nghe và thọ Kinh này
Là giáo Pháp đệ nhất

Khai thị chỉ dạy họ
Khiến trụ Đạo tịch diệt
Đời đời luôn thọ trì
Kinh điển Phật như thế

Ức ức vạn số kiếp
Đến chẳng thể nghĩ bàn
Mới có thể nghe được
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Ức ức vạn số kiếp
Đến chẳng thể nghĩ bàn
Các Đức Phật Thế Tôn
Luôn thuyết giảng Kinh này

Vì thế các hành giả
Sau khi Phật diệt độ
Nghe được Kinh thế này
Chớ sanh lòng hoài nghi

Mà phải nên nhất tâm
Rộng giảng Kinh Pháp này
Đời đời sẽ gặp Phật
Tất mau thành Phật Đạo”

♦ PHẨM 21: THẦN LỰC CỦA NHƯ LAI

Lúc bấy giờ có số lượng chư đại Bồ-tát bằng vi trần của 1.000 thế giới. Họ từ dưới đất vọt ra và đều ở trước Đức Phật.

Họ nhất tâm chắp tay, chiêm ngưỡng tôn nhan, rồi thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, ở tại nơi diệt độ của các cõi nước có phân thân của Thế Tôn, chúng con sẽ rộng giảng Kinh này.

Vì sao thế? Bởi chúng con cũng tự muốn đắc Pháp chân thật thanh tịnh này; cùng thọ trì đọc tụng, giảng giải biên chép và cúng dường Kinh này.”

Lúc bấy giờ ở trước sự hiện diện của hết thảy đại chúng–gồm có ngài Diệu Cát Tường, vô lượng tỷ ức chư đại Bồ-tát đã trú trong hư không ở phía dưới của Thế giới Kham Nhẫn từ thuở xa xưa, cùng các vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân–Thế Tôn hiện sức đại uy thần.

Đức Phật hiện ra tướng lưỡi rộng dài lên đến cõi Phạm Thiên. Từ nơi của tất cả những lỗ chân lông, Ngài phóng ra vô lượng vô số sắc quang và thảy đều chiếu khắp các thế giới trong mười phương. Chư Phật ngồi trên tòa sư tử ở dưới các cây báu hiện ra tướng lưỡi rộng dài và phóng ra vô lượng quang minh cũng lại như vậy.

Khi Đức Phật Năng Tịch và chư Phật ở dưới cây báu đã hiện thần lực đến suốt 1.000 năm, sau đó chư Phật thu nhiếp tướng lưỡi trở lại, rồi chư Phật đồng một lúc tằng hắng và khảy ngón tay. Hai âm thanh này vang đến các thế giới của chư Phật trong mười phương.

Khi ấy đại địa của tất cả thế giới kia đều chấn động sáu cách và chúng sanh trong các cõi nước ấy–trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân–do thần lực của Phật nên đều thấy Thế giới Kham Nhẫn này có vô lượng vô biên tỷ ức chư Phật ngồi trên tòa sư tử ở dưới các cây báu. Họ cũng thấy Đức Phật Năng Tịch và Đức Phật Đa Bảo đang cùng ngồi trên tòa sư tử ở trong tháp báu.

Lại thấy vô lượng vô biên tỷ ức chư đại Bồ-tát cùng bốn chúng đệ tử đang cung kính vây quanh Đức Phật Năng Tịch. Khi đã thấy việc ấy, họ đều vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.

Ngay lập tức, chư thiên ở trong hư không hô lớn tiếng rằng:

“Từ đây vượt qua vô lượng vô biên tỷ ức vô số thế giới, có một quốc độ tên là Kham Nhẫn. Trong đó có Đức Phật hiệu là Năng Tịch, hiện đang vì chư đại Bồ-tát mà nói Kinh Đại Thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, là Pháp để giáo hóa Bồ-tát và được Phật hộ niệm. Tất cả đều nên hết lòng tùy hỷ và cũng nên lễ bái cúng dường Đức Phật Năng Tịch.”

Khi đã nghe tiếng nói trong hư không, các chúng sanh kia đều chắp tay và hướng về Thế giới Kham Nhẫn mà niệm như vầy:

“♪ Quy mạng Năng Tịch Phật!
♪ Quy mạng Năng Tịch Phật!”

Sau đó từ nơi xa, họ rải muôn loại hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, tràng phan, lọng che cùng những vật trang nghiêm nơi thân, và các phẩm vật trân bảo vi diệu về Thế giới Kham Nhẫn. Các phẩm vật rải xuống để cúng dường từ mười phương đến ví như mây tụ. Chúng biến thành màn báu và trùm khắp trên chư Phật ở mỗi nơi. Khi ấy các thế giới trong mười phương đều thông đạt vô ngại, ví như là một Phật độ.

Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Thượng Hạnh và chư Bồ-tát trong chúng hội:

“Thần lực của chư Phật là vô lượng vô biên và chẳng thể nghĩ bàn như thế. Vì để phó chúc, nếu như Ta dùng thần lực ấy mà nói công đức của Kinh này trong vô lượng vô biên tỷ ức vô số kiếp thì cũng chẳng thể hết.

Nói tóm lại, tất cả Pháp của Như Lai, tất cả thần lực tự tại của Như Lai, tất cả tạng bí yếu của Như Lai, và tất cả việc thâm sâu của Như Lai–hết thảy đều tuyên nói và hiển thị ở Kinh này.

Thế nên sau khi Như Lai diệt độ, các ông nên nhất tâm thọ trì đọc tụng, giảng giải biên chép, và như thuyết tu hành. Ở các quốc độ nào có Kinh này mà có người thọ trì đọc tụng, giảng giải biên chép, và như thuyết tu hành, hoặc họ ở trong vườn, hoặc trong rừng, hay ở dưới cây, hoặc nơi chư Tăng cư trú, hay nhà của cư sĩ, hoặc cung điện giảng đường, hay sơn cốc hoang vu, thì ở tại các nơi đó đều nên xây tháp cúng dường.

Vì sao thế? Bởi các ông nên biết nơi ấy chính là Đạo Tràng mà nơi chư Phật đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nơi chư Phật chuyển Pháp luân và nơi chư Phật vào Cứu Cánh Tịch Diệt.”

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên nên nói kệ rằng:

“Chư Phật bậc độ thế
Trụ trong đại thần thông
Vì muốn chúng sanh vui
Hiện vô lượng thần lực

Tướng lưỡi đến Phạm Thiên
Thân phóng vô số quang
Vì người cầu Phật Đạo
Hiện việc hiếm có này

Tiếng chư Phật tằng hắng
Cùng tiếng khảy móng tay
Vang thấu mười phương giới
Đại địa đều chấn động

Sau khi Phật diệt độ
Nếu ai trì Kinh này
Chư Phật đều hoan hỷ
Hiện vô lượng thần lực

Vì phó chúc Kinh này
Ngợi khen người thọ trì
Ở trong vô lượng kiếp
Cũng chẳng thể cùng tận

Công đức của người ấy
Vô biên chẳng cùng tận
Như mười phương hư không
Chẳng thể thấy ranh giới

Nếu ai trì Kinh này
Tức đã từng thấy Ta
Cũng thấy Phật Đa Bảo
Cùng các phân thân Phật
Lại thấy Ta hôm nay
Giáo hóa chư Bồ-tát

Nếu ai trì Kinh này
Làm Ta cùng phân thân
Phật Đa Bảo diệt độ
Hết thảy đều hoan hỷ

Mười phương Phật hiện tại
Cùng quá khứ vị lai
Cũng thấy và cúng dường
Khiến họ thêm hoan hỷ

Chư Phật ngồi Đạo Tràng
Pháp bí yếu chứng đắc
Người khéo trì Kinh này
Không lâu cũng sẽ đắc

Những ai trì Kinh này
Đối với nghĩa các pháp
Danh tự cùng ngôn từ
Vui giảng vô cùng tận
Như gió trong hư không
Hết thảy không chướng ngại

Sau khi Phật diệt độ
Họ biết Kinh Phật nói
Nhân duyên và thứ tự
Tùy nghĩa mà thuyết giảng
Như ánh sáng nhật nguyệt
Diệt trừ mọi tối tăm

Người này dạo thế gian
Khéo diệt chúng sanh ám
Dạy vô lượng Bồ-tát
Thảy đều trụ Nhất Thừa

Vì thế ai có trí
Khi nghe công đức đó
Sau khi Ta diệt độ
Nên thọ trì Kinh này
Nhất định quyết chẳng nghi
Người ấy sẽ thành Phật”

♦ PHẨM 22: PHÓ CHÚC

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch từ Pháp tòa đứng dậy và hiện sức đại uy thần.

Ngài lấy bàn tay phải xoa trên đỉnh đầu của vô lượng chư đại Bồ-tát mà nói lời như vầy:

“Trong vô lượng tỷ ức vô số kiếp, Ta đã tu tập Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khó chứng đắc này. Ta nay phó chúc cho các ông. Các ông hãy hết lòng lưu truyền và khiến cho Pháp này phát huy rộng rãi.”

Ngài xoa trên đỉnh đầu của chư đại Bồ-tát ba lần như thế, rồi nói lời như vầy:

“Trong vô lượng tỷ ức vô số kiếp, Ta đã tu tập Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khó chứng đắc này. Ta nay phó chúc cho các ông. Các ông nên thọ trì đọc tụng, rộng tuyên dương Pháp này, và làm cho hết thảy chúng sanh đều nghe biết.

Vì sao thế? Bởi Như Lai có lòng đại từ bi, không bỏn xẻn và cũng không có điều lo sợ. Như Lai có thể cho chúng sanh trí tuệ của Phật, trí tuệ của Như Lai, và trí tuệ tự nhiên. Như Lai là vị đại thí chủ của tất cả chúng sanh. Các ông cũng nên tùy thuận học tập trong Pháp của Như Lai và chớ sanh lòng keo kiệt.

Vào đời vị lai, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào tín thọ trí tuệ của Như Lai, thì các ông nên diễn nói Kinh Pháp Hoa này, làm cho họ nghe biết đến, và khiến người ấy được trí tuệ của Phật. Nếu có chúng sanh nào không tín thọ, các ông nên dạy họ với các Pháp thâm sâu khác của Như Lai để họ được lợi ích an vui. Như các ông có thể làm được như vậy thì tức là đã báo ân của chư Phật.”

Khi nghe Phật nói lời ấy xong, chư đại Bồ-tát đều sanh tâm đại hoan hỷ đến khắp toàn thân và trong lòng càng thêm cung kính.

Họ cúi đầu, chắp tay hướng Phật, và đồng thanh thưa rằng:

“Chúng con sẽ phụng hành đầy đủ như lời giáo sắc của Thế Tôn. Dạ vâng, thưa Thế Tôn! Mong Ngài chớ lo lắng.”

Chư đại Bồ-tát bạch ba lần như vậy và đồng thanh thưa rằng:

“Chúng con sẽ phụng hành đầy đủ như lời giáo sắc của Thế Tôn. Dạ vâng, thưa Thế Tôn! Mong Ngài chớ lo lắng.”

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch gửi phân thân của chư Phật đã đến từ mười phương trở về cõi nước của mỗi vị mà nói lời như vầy:

“Chư Phật hãy trở về bình an. Tháp của Đức Phật Đa Bảo hãy trở lại như cũ.”

Lúc Phật nói lời ấy, vô lượng phân thân của chư Phật trong mười phương liền ngồi trên tòa sư tử ở dưới cây báu; Đức Phật Đa Bảo, Thượng Hạnh Bồ-tát và những vị khác, vô biên vô số Bồ-tát trong chúng hội, ngài Thu Lộ Tử, các vị Thanh Văn, bốn chúng đệ tử, cùng hết thảy trời, người, phi thiên, và những loài hữu tình khác trong thế gian, khi nghe lời Phật dạy, họ đều vui mừng khôn xiết.

♦ PHẨM 23: BỔN SỰ CỦA DƯỢC VƯƠNG BỒ-TÁT

Lúc bấy giờ Tú Vương Hoa Bồ-tát bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Dược Vương Bồ-tát chu du giáo hóa ở Thế giới Kham Nhẫn như thế nào?

Bạch Thế Tôn! Dược Vương Bồ-tát này đây đã trải qua rất nhiều tỷ ức nayuta các khổ hạnh khó làm.

Lành thay, Thế Tôn! Xin Ngài hãy nói một chút về việc đó. Các thiên long quỷ thần, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân, với chư Bồ-tát đã đến từ cõi nước phương khác, cùng Thanh Văn thánh chúng nơi đây, khi nghe Như Lai nói, họ đều sẽ hoan hỷ.”

Khi ấy Phật bảo Tú Vương Hoa Bồ-tát:

“Vào thuở quá khứ vô lượng Hằng Hà sa kiếp, có Đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đức Phật ấy có 80 ức chư đại Bồ-tát và số lượng của các vị đại Thanh Văn bằng số cát của 72 sông Hằng. Thọ mạng của Phật là 42.000 kiếp. Thọ mạng của Bồ-tát cũng đồng như vậy. Cõi nước kia không có người nữ, địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, hoặc phi thiên, hay các chướng nạn. Mặt đất bằng phẳng như lòng bàn tay và do lưu ly hợp thành. Có cây báu trang nghiêm với màn báu phủ ở trên và treo cờ hoa báu. Có bình báu và lư hương ở đầy khắp cõi nước. Có những đài làm bằng bảy báu. Ở mỗi cây có một đài báu và khoảng cách từ cây báu đến kỳ đài xa bằng lực bay của một mũi tên. Ở dưới các cây báu này đều có Bồ-tát và Thanh Văn đang ngồi ở đó. Ở trên mỗi đài báu đều có hàng trăm ức chư thiên khởi tấu âm nhạc cõi trời, ca vịnh và tán thán để cúng dường Phật.

Lúc bấy giờ Đức Phật kia vì Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát cùng chư Bồ-tát và hàng Thanh Văn mà Ngài thuyết Kinh Pháp Hoa.

Vị Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát này rất thích tu khổ hạnh. Ngài ở trong giáo Pháp của Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức tinh tấn tu hành và nhất tâm cầu Phật Đạo. Trải qua 12.000 năm, ngài đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chánh Định.

Khi đã đắc chánh định này, ngài sanh tâm đại hoan hỷ và liền suy nghĩ rằng:

‘Ta đã đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chánh Định. Đây đều là do bởi uy lực khi nghe được Kinh Pháp Hoa. Ta nay phải cúng dường Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và Kinh Pháp Hoa.’

Rồi liền nhập chánh định này và ở trong hư không, ngài mưa xuống hoa vi diệu âm và hoa vi diệu âm lớn. Bột hương đàn nhỏ, cứng, và đen cũng rơi đầy khắp không trung và chúng rơi xuống như mây.

Lại mưa xuống hương đàn hải ngạn và hương lục thù với trị giá bằng cả Thế giới Kham Nhẫn để cúng dường Phật.

Khi đã làm cúng dường xong, ngài từ chánh định dậy và tự nghĩ thầm:

‘Tuy ta đã dùng thần lực để cúng dường Phật nhưng chẳng bằng dùng thân để cúng dường.’

Nghĩ thế xong, ngài liền uống các loại hương, như là: hương đàn, hương huân lục, hương bạch mao, hương mục túc, hương trầm thủy, và hương giao.

Lại uống dầu hoa ngọc lan và các thứ hương hoa khác suốt 1.200 năm. Sau đó, ngài thoa dầu thơm lên mình và ở trước Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, rồi lấy y báu cõi trời quấn vào thân và đổ các dầu thơm lên thân ngài. Do thần thông nguyện lực, ngài tự đốt thân mình. Ánh sáng chiếu khắp đến 80 ức Hằng Hà sa thế giới.

Trong đó chư Phật đồng một lúc ngợi khen rằng:

‘Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Đây mới đúng thật là tinh tấn. Đây gọi là Pháp chân thật cúng dường Như Lai. Nếu dùng hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương đốt, hương bột, hương xoa, lọng che và tràng phan cõi trời, cùng hương đàn hải ngạn, muôn vật cúng dường như thế cũng chẳng thể sánh bằng. Giả sử có người lấy quốc gia, thành trì, và vợ con để làm bố thí thì cũng chẳng sao sánh kịp.

Thiện nam tử! Đây gọi là bố thí đệ nhất. trong các việc bố thí, sự bố thí này là tối tôn tối thượng. Đó là vì dùng Pháp để cúng dường cho chư Như Lai.’

Khi nói lời ấy xong, chư Phật đều lặng yên.

Thân của vị Bồ-tát này cháy đến 1.200 năm. Sau thời gian đó, thân của ngài mới hoàn toàn cháy hết.

Khi Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát đã làm việc cúng dường Pháp như thế xong, sau khi mạng chung, ngài lại sanh trong quốc độ của Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức.

Ngài ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen, hốt nhiên hóa sanh vào dòng tộc của vua Tịnh Đức, rồi liền nói bài kệ này đến phụ vương rằng:

‘Đại Vương nay phải biết
Con đã tu nơi kia
Lập tức đắc Nhất Thiết
Hiện Chư Thân Chánh Định

Siêng hành đại tinh tấn
Xả bỏ thân yêu quý
Cúng dường cho Thế Tôn
Vì cầu vô thượng trí’

Khi nói bài kệ này xong, ngài thưa với phụ vương rằng:

‘Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức xưa nay vẫn còn ở thế gian. Vào đời trước, khi cúng dường Đức Phật ấy xong, con liền đắc Giải Nhất Thiết Chúng Sanh Ngữ Ngôn Tổng Trì. Tiếp đó, con lại nghe được tám tỷ ức nayuta, kamkara [cam ca ra], bimbara [bim ba ra], và akṣobhya [ác sô bi a] bài kệ trong Kinh Pháp Hoa.

Thưa đại vương! Con nay phải trở về để cúng dường Đức Phật đó.’

Khi thưa xong, ngài liền ngồi trên đài bảy báu và bay lên hư không với độ cao bằng bảy cây cọ, rồi đi đến Đạo Tràng của Phật.

Lúc đến nơi, ngài cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, chắp mười đầu ngón tay và dùng kệ tán thán rằng:

‘Dung nhan thật kỳ diệu
Ánh sáng chiếu mười phương
Xưa con vừa cúng dường
Nay trở về thân cận’

Khi Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát nói bài kệ đó xong, ngài thưa với Phật rằng:

‘Thưa Thế Tôn! Ngài vẫn còn ở thế gian!’

Lúc bấy giờ Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức bảo Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát rằng:

‘Thiện nam tử! Thời gian Ta vào tịch diệt đã đến. Ông có thể an trí giường nệm. Tối nay Như Lai sẽ vào Cứu Cánh Tịch Diệt.’

Ngài lại ban giáo sắc cho Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát rằng:

‘Thiện nam tử! Ta phó chúc Phật Pháp, chư Bồ-tát, các vị đại đệ tử, và cùng Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho ông. Ta cũng lại phó chúc Tam Thiên Đại Thiên Thất Bảo Thế Giới, những cây báu và đài báu, cùng chư thiên cho ông. Sau khi Ta diệt độ, Ta cũng phó chúc xá-lợi của Ta cho ông. Ông hãy nên phân phát, rộng làm cúng dường và xây vài ngàn ngôi tháp.’

Khi Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức đã ban giáo sắc như thế cho Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát xong, vào giữa đêm, Ngài vào tịch diệt.

Khi Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát thấy Phật diệt độ, ngài thương cảm buồn bã và quyến luyến Phật. Vì cúng dường thân Phật, ngài liền lấy hương đàn hải ngạn mà dùng để hỏa táng. Lúc lửa đã tắt, ngài nhặt xá-lợi, rồi làm 84.000 bình báu để an trí xá-lợi, và xây 84.000 ngôi tháp với độ cao bằng ba thế giới. Tháp có biểu sát trang nghiêm, treo lọng che tràng phan và gắn các chuông báu.

Lúc bấy giờ Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát lại tự nghĩ thầm:

‘Tuy ta đã làm sự cúng dường này nhưng trong lòng vẫn chưa mãn nguyện. Ta nay phải cúng dường thêm xá-lợi.’

Rồi ngài liền nói với chư Bồ-tát, các vị đại đệ tử, cùng trời, rồng, quỷ tiệp tật, và hết thảy đại chúng rằng:

‘Các vị hãy nhất tâm chí niệm, tôi nay sẽ cúng dường xá-lợi của Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức.’

Khi nói lời đó xong, ngài liền ở trước 84.000 ngôi tháp, rồi đốt hai cánh tay trăm phước trang nghiêm suốt 72.000 năm để làm cúng dường. Suốt thời gian ấy, ngài khiến cho vô số người cầu Quả Thanh Văn, vô lượng vô số người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và khiến họ đều trụ và đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chánh Định.

Lúc bấy giờ, khi chư Bồ-tát, trời, người, và phi thiên thấy ngài không có tay, họ xót dạ đau lòng mà nói rằng:

‘Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát là vị thầy đã giáo hóa chúng ta, nhưng giờ hai cánh tay đã đốt đi nên khiến cho thân thể của ngài không được hoàn chỉnh nữa.’

Khi ấy, Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát liền ở giữa đại chúng mà lập nguyện như sau:

‘Con xả bỏ hai cánh tay này, tất sẽ được thân sắc vàng của Phật. Nếu là chân thật bất hư thì hãy khiến hai cánh tay của con được hoàn phục như cũ.’

Sau khi phát thệ nguyện này xong, hai tay tự nhiên hoàn phục như cũ. Đây là do bởi phước đức thanh tịnh và trí tuệ sâu xa của Bồ-tát. Ngay lúc đó, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chấn động sáu cách. Trời mưa hoa báu. Hết thảy trời và người được điều chưa từng có.”

Phật bảo Tú Vương Hoa Bồ-tát:

“Ý ông nghĩ sao? Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát nào có ai khác, nay chính là Dược Vương Bồ-tát. Ông ấy đã xả bỏ thân mạng để làm bố thí như thế, số lượng đó nhiều đến vô lượng tỷ ức nayuta.

Này Tú Vương Hoa! Nếu có người phát tâm muốn đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, họ có thể đốt một ngón tay hoặc một ngón chân để cúng dường tháp Phật, thì sẽ vượt hơn người lấy quốc gia thành trì, vợ con hoặc núi rừng sông hồ cùng các vật trân bảo trong Tam Thiên Đại Thiên Quốc Độ để cúng dường.

Nếu lại có người lấy vật bảy báu đầy khắp Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới để cúng dường Phật cùng chư đại Bồ-tát, Độc Giác, và Ứng Chân, thì công đức có được của họ sẽ không bằng người dù chỉ thọ trì bốn câu kệ trong Kinh Pháp Hoa này. Phước đức ấy là tối thắng.

Này Tú Vương Hoa! Ví như tất cả sông hồ khe suối, trong mọi nơi có nước, biển là hơn hết. Ở trong hết thảy Kinh điển do Như Lai nói, Kinh Pháp Hoa này cũng lại như vậy, là Kinh quảng đại thâm sâu nhất.

Lại ví như núi Đất, núi Đen, núi Tiểu Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, cùng núi Thập Bảo, trong tất cả núi non, núi Diệu Cao là đệ nhất. Ở trong các Kinh điển, Kinh Pháp Hoa này cũng lại như vậy, là Kinh tối thượng nhất.

Lại ví như ở giữa các tinh tú, Nguyệt Thiên Tử là tối thắng nhất. Ở trong ngàn vạn ức loại Kinh Pháp, Kinh Pháp Hoa này cũng lại như vậy, là Kinh chiếu sáng nhất.

Lại ví như Nhật Thiên Tử có thể phá trừ mọi đen tối. Kinh này cũng lại như vậy, có thể phá trừ mọi đen tối của việc bất thiện.

Lại ví như ở giữa các tiểu vương, Chuyển Luân Thánh Vương là tối đệ nhất. Ở trong các Kinh điển, Kinh này cũng lại như vậy, là Kinh tôn quý nhất.

Lại ví như Năng Thiên Đế, là vua của trời Tam Thập Tam. Kinh này cũng lại như vậy, là vua trong các Kinh.

Lại ví như Đại Phạm Thiên Vương, là cha của hết thảy chúng sanh. Kinh này cũng lại như vậy, là cha của tất cả hiền thánh, hàng Hữu Học, bậc Vô Học, và sơ phát tâm Bồ-tát.

Lại ví như ở giữa hàng phàm phu, thì bậc Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Hoàn, Ứng Chân, và Độc Giác là đệ nhất. Kinh này cũng lại như vậy.

Trong hết thảy Kinh Pháp do tất cả Như Lai, Bồ-tát, hay Thanh Văn thuyết giảng, Kinh này là đệ nhất.

Nếu ai có thể thọ trì Kinh điển này thì cũng lại như vậy. Ở trong tất cả chúng sanh, họ là đệ nhất.

Ở giữa tất cả Thanh Văn và Độc Giác, Bồ-tát là đệ nhất. Ở trong hết thảy mọi Kinh Pháp, Kinh này là tối đệ nhất.

Như Phật là vua của tất cả pháp, Kinh này cũng lại như vậy, là vua của tất cả Kinh.

Này Tú Vương Hoa!
– Kinh này có thể cứu hộ hết thảy chúng sanh.
– Kinh này có thể khiến hết thảy chúng sanh xa lìa mọi khổ não.
– Kinh này có thể làm lợi ích lớn và mãn nguyện điều cầu mong cho hết thảy chúng sanh.
– Như ao tắm mát mẻ có thể giải khát cho tất cả những ai đang khát;
– Như người đang lạnh tìm thấy lửa;
– Như người trần truồng tìm thấy quần áo;
– Như người buôn bán tìm thấy khách hàng;
– Như con tìm thấy mẹ;
– Như người muốn qua sông tìm thấy thuyền;
– Như người bệnh tìm thấy lương y;
– Như người trong tối tìm thấy đèn sáng;
– Như người nghèo tìm thấy châu báu;
– Như dân chúng thấy vua;
– Như thương gia tìm thấy biển;
– Như bó đuốc diệt trừ u tối.

Kinh Pháp Hoa này cũng lại như vậy, có thể khiến chúng sanh xa rời tất cả khổ não cùng tất cả bệnh hoạn thống khổ và có thể tháo gỡ tất cả sự trói buộc của sanh tử.

Nếu ai nghe được Kinh Pháp Hoa này, rồi tự mình biên chép hoặc bảo người khác biên chép, cho dù dùng trí tuệ của Phật để tính đếm phước đức có được của họ thì cũng chẳng thể thấy ranh giới.

Nếu ai biên chép Kinh này, rồi lấy hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương đốt, hương bột, hương xoa, lọng che, tràng phan, y phục, và các loại đèn–như là đèn bơ, đèn dầu, đèn dầu thơm, đèn dầu hoa ngọc lan, đèn dầu hoa lài, đèn dầu hoa trùng sanh, đèn dầu hoa vũ thời, và đèn dầu hoa hoàng sắc–để làm cúng dường, thì công đức có được cũng lại vô lượng.

Này Tú Vương Hoa! Nếu có người nghe về Phẩm Bổn Sự của Dược Vương Bồ-tát thì cũng được vô lượng vô biên công đức.

Nếu có người nữ nào nghe về Phẩm Bổn Sự của Dược Vương Bồ-tát và có thể thọ trì, thì sau khi hết báo thân nữ sẽ chẳng còn thọ lại nữa.

Sau khi Như Lai diệt độ và ở trong 500 năm cuối cùng, nếu có người nữ nào nghe được Kinh điển này rồi như thuyết tu hành, thì sau khi mạng chung ở đời hiện tại, họ sẽ liền vãng sanh đến Thế giới Cực Lạc của Đức Phật Vô Lượng Thọ và có chư đại Bồ-tát vây quanh nơi đó. Họ sẽ sanh trong hoa sen và ngồi trên tòa báu. Họ không còn bị tham dục làm cho khổ não, cũng không còn bị sân hận hay si mê làm cho khổ não, và cũng không còn bị cáu bẩn của lòng kiêu mạn hay ganh ghét làm cho khổ não.

Họ sẽ đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn và thần thông của Bồ-tát. Khi đã đắc Pháp Nhẫn này, căn mắt sẽ thanh tịnh. Với căn mắt thanh tịnh, họ sẽ thấy 7.002.000 ức nayuta Hằng Hà sa chư Phật Như Lai.

Ngay lúc đó, chư Phật đồng ngợi khen từ xa rằng:

‘Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Ông ở trong giáo Pháp của Đức Phật Năng Tịch mà có thể thọ trì đọc tụng, tư duy và thuyết giảng Kinh này cho người khác. Phước đức có được là vô lượng vô biên. Lửa chẳng thể đốt. Nước chẳng thể dìm. Dù cả 1.000 Đức Phật cùng tuyên thuyết thì cũng không thể nói hết công đức của ông. Ông nay đã có thể phá diệt bè lũ của ma, hủy hoại đoàn quân sanh tử, và mọi oán địch khác đều diệt trừ sạch.

Thiện nam tử! Trăm ngàn chư Phật sẽ đồng dùng sức thần thông để bảo hộ ông. Ở giữa hết thảy hàng trời người trong thế gian, không ai có thể bằng ông–duy trừ Như Lai. Còn Thanh Văn, Độc Giác, và thậm chí đến Bồ-tát thì cũng không thể bằng trí tuệ và thiền định của ông.’

Này Tú Vương Hoa! Vị Bồ-tát này thành tựu sức công đức và trí tuệ như thế đấy.

Nếu có người nghe về Phẩm Bổn Sự của Dược Vương Bồ-tát và có thể tùy hỷ tán thán, thì trong miệng người ấy ở đời hiện tại sẽ thường tỏa ra mùi hương của hoa sen xanh và trong những lỗ chân lông thường tỏa ra mùi thơm hương đàn ở Đỉnh núi Ngưu Đầu. Công đức có được của họ thì cũng như đã nói ở trên.

Vì thế, Tú Vương Hoa! Ta nay phó chúc Phẩm Bổn Sự của Dược Vương Bồ-tát này cho ông. Sau khi Ta diệt độ và ở trong 500 năm cuối cùng, ông hãy rộng lưu truyền ở châu Thắng Kim. Hãy đừng để đoạn tuyệt, cũng chớ để chúng ác ma, nhân dân của ma, trời, rồng, quỷ tiệp tật, quỷ úng hình, và những loài khác thừa cơ trục lợi.

Này Tú Vương Hoa! Ông nên dùng sức thần thông mà bảo hộ Kinh này.

Vì sao thế? Bởi Kinh này là phương thuốc hay cho những người bệnh ở châu Thắng Kim. Nếu ai mắc bệnh mà nghe được Kinh này, thì bệnh sẽ liền lành hẳn. Họ sẽ không già và không chết.

Này Tú Vương Hoa! Nếu thấy có ai thọ trì Kinh này, thì ông nên lấy hoa sen xanh và đựng đầy hương bột rải lên họ để cúng dường.

Khi đã rải xong, hãy nghĩ như vầy:

‘Không bao lâu nữa thì người này sẽ lấy cỏ trải làm tòa và ngồi ở Đạo Tràng, phá chúng ma quân, thổi loa Pháp, đánh trống Pháp lớn, và cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi biển sanh già bệnh chết.’

Vì vậy, những hành giả nào cầu Phật Đạo mà khi thấy có người thọ trì Kinh điển này thì họ phải nên sanh tâm cung kính như thế.”

Khi Phật thuyết Phẩm Bổn Sự của Dược Vương Bồ-tát này, 84.000 Bồ-tát đắc Giải Nhất Thiết Chúng Sanh Ngữ Ngôn Tổng Trì.

Từ trong tháp báu, Đa Bảo Như Lai ngợi khen Tú Vương Hoa Bồ-tát rằng:

“Lành thay, lành thay, Tú Vương Hoa! Ông đã thành tựu công đức chẳng thể nghĩ bàn nên mới có thể hỏi Đức Phật Năng Tịch việc như thế để làm lợi ích vô lượng hết thảy chúng sanh.”

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 6

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Quyển 7

♦ PHẨM 24: DIỆU ÂM BỒ-TÁT

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch phóng quang minh từ đảnh nhục kế, là tướng của bậc đại nhân, và phóng ra ánh sáng từ tướng bạch hào ở giữa đôi chân mày. Hào quang đó chiếu khắp 1.080.000 ức nayuta [na du ta] Hằng Hà sa thế giới của chư Phật ở phương đông.

Vượt qua số thế giới này có một thế giới tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm. Quốc độ ấy có một Đức Phật, hiệu là Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Có vô lượng vô biên Bồ-tát đại chúng đang cung kính vây quanh và Ngài thuyết Pháp cho họ. Khi ấy, ánh sáng bạch hào của Đức Phật Năng Tịch chiếu soi khắp cõi nước kia.

Lúc bấy giờ trong quốc độ Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm có một vị Bồ-tát tên là Diệu Âm. Từ xưa ngài đã gieo trồng căn lành, thân cận cúng dường vô lượng tỷ ức chư Phật và thành tựu được trí tuệ thâm sâu.

Ngài đã đắc:
– Diệu Tràng Tướng Chánh Định,
– Pháp Hoa Chánh Định,
– Tịnh Đức Chánh Định,
– Tú Vương Hí Chánh Định,
– Vô Duyên Chánh Định,
– Trí Ấn Chánh Định,
– Giải Nhất Thiết Chúng Sanh Ngữ Ngôn Chánh Định,
– Tập Nhất Thiết Công Đức Chánh Định,
– Thanh Tịnh Chánh Định,
– Thần Thông Du Hí Chánh Định,
– Tuệ Cự Chánh Định,
– Trang Nghiêm Vương Chánh Định,
– Tịnh Quang Minh Chánh Định,
– Tịnh Tạng Chánh Định,
– Bất Cộng Chánh Định,
– Nhật Toàn Chánh Định.

Ngài đã đắc các đại chánh định như thế, nhiều như số cát trong một tỷ ức sông Hằng.

Khi hào quang của Đức Phật Năng Tịch chiếu đến thân, ngài liền thưa với Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con nên đi đến Thế giới Kham Nhẫn để lễ bái, thân cận, và cúng dường Đức Phật Năng Tịch cùng thấy được Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dũng Thí Bồ-tát, Tú Vương Hoa Bồ-tát, Thượng Hành Ý Bồ-tát, Trang Nghiêm Vương Bồ-tát, và Dược Thượng Bồ-tát.”

Lúc bấy giờ Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí bảo Diệu Âm Bồ-tát rằng:

“Ông chớ khinh cõi nước kia và nghĩ rằng nó thấp kém.

Thiện nam tử! Thế giới Kham Nhẫn kia có chỗ cao chỗ thấp và không bằng phẳng. Có đất, đá, núi non, và tràn đầy các đồ dơ bẩn cùng những việc xấu ác. Thân Phật bé nhỏ và thân hình của chư Bồ-tát cũng nhỏ. Còn thân ông cao 42.000 yojana [dô cha na], và thân Ta cao 6,8 triệu yojana. Thân của ông đoan chánh đệ nhất với một tỷ phước trang nghiêm và quang minh thù diệu. Cho nên khi đến nơi đó, ông chớ khinh khi và sanh ý tưởng thấp kém đối với cõi nước kia cùng Phật và chư Bồ-tát ở quốc độ ấy.”

Diệu Âm Bồ-tát thưa với Đức Phật kia rằng:

“Thưa Thế Tôn! Bây giờ con sẽ đi đến Thế giới Kham Nhẫn bằng vào uy lực của Như Lai, thần thông du hí của Như Lai, và công đức trí tuệ trang nghiêm của Như Lai.”

Khi ấy, thân của Diệu Âm Bồ-tát chẳng dao động, không rời khỏi chỗ ngồi và nhập chánh định. Bằng với sức chánh định, ngài đi đến núi Thứu Phong cách Pháp tòa không xa. Rồi biến hóa ra 84.000 hoa sen báu, với cọng làm bằng vàng ở dưới sông tại châu Thắng Kim, bạc trắng làm lá, kim cang làm nhụy, và ngọc xích bảo làm cuống.

Khi Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử thấy những hoa sen này, ngài bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà hiện ra điềm tướng này, có vài ngàn vạn hoa sen với cọng làm bằng vàng ở dưới sông tại châu Thắng Kim, bạc trắng làm lá, kim cang làm nhụy, và ngọc xích bảo làm cuống?”

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch bảo ngài Diệu Cát Tường:

“Đây là do Diệu Âm Đại Bồ-tát từ quốc độ của Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, ngài với 84.000 Bồ-tát đang vây quanh Đức Phật kia, họ muốn đến Thế giới Kham Nhẫn này để cúng dường, thân cận, và lễ bái Ta. Lại cũng muốn cúng dường và nghe Kinh Pháp Hoa.”

Ngài Diệu Cát Tường bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vị Bồ-tát đó đã gieo trồng căn lành và tu công đức gì mà có sức đại thần thông này? Ngài đã tu hành chánh định gì? Ngưỡng mong Thế Tôn nói các danh tự của chánh định ấy cho chúng con. Chúng con cũng muốn siêng tu hành các chánh định ấy để có thể thấy sắc tướng, dáng vóc, và uy nghi lúc đến đi của vị Bồ-tát này.

Kính mong Thế Tôn hãy dùng sức thần thông để khiến chúng con thấy được khi vị Bồ-tát kia đến.”

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch bảo ngài Diệu Cát Tường:

“Đức Phật Đa Bảo đã diệt độ từ lâu, sẽ vì các ông mà hiện ra các tướng đó.”

Khi ấy Đức Phật Đa Bảo nói với vị Bồ-tát kia rằng:

“Thiện lai, thiện nam tử! Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử muốn thấy thân ông.”

Diệu Âm Bồ-tát liền biến mất ở cõi nước kia và cùng 84.000 Bồ-tát đồng khởi hành. Các quốc độ đi qua thảy đều chấn động sáu cách, mưa xuống hoa sen bảy báu và trăm ngàn loại âm nhạc cõi trời không cần khảy mà tự vang.

Mắt của vị Bồ-tát này rộng lớn như cánh sen xanh. Cho dù cả một tỷ mặt trăng hợp lại thì cũng không vượt hơn diện mạo đoan chánh của ngài. Thân có màu sắc vàng ròng và trang nghiêm với vô lượng trăm ngàn công đức. Uy đức hiển hách, quang minh chiếu sáng, đầy đủ mọi tướng và thân kiên cố như Nhân Sanh Bổn Thiên.

Khi ấy ngài vào đài bảy báu và bay lên hư không cách mặt đất với độ cao bằng bảy cây cọ, cùng với chư Bồ-tát cung kính vây quanh và đi đến núi Thứu Phong ở Thế giới Kham Nhẫn. Lúc đến nơi, ngài bước xuống đài bảy báu và cầm xâu chuỗi anh lạc với trị giá hàng trăm ngàn lượng vàng.

Sau đó, ngài đi đến chỗ của Đức Phật Năng Tịch, cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi dâng lên xâu chuỗi anh lạc và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí thăm hỏi Thế Tôn không có bệnh và không có phiền não chứ? Đi đứng có nhẹ nhàng chăng? Hạnh làm có an lạc chăng? Bốn đại có điều hòa chăng? Thế sự có thể nhẫn chăng? Chúng sanh có dễ độ, ít tham dục, sân hận, si mê, ganh ghét, keo kiệt, và ít khinh mạn chăng? Có ai bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính trọng Đạo Nhân, tà kiến, tâm bất thiện và không thu nhiếp tình thức của năm căn chăng?

Thưa Thế Tôn! Chúng sanh có thể hàng phục chúng ma oán chăng? Đức Phật Đa Bảo đã diệt độ từ lâu đang ở trong tháp bảy báu có đến nghe Pháp chăng?”

Rồi ngài cũng lại thăm hỏi về Đa Bảo Như Lai có được an ổn, không phiền não, và kham nhẫn cửu trụ chăng?

“Thưa Thế Tôn! Con nay muốn thấy Đức Phật Đa Bảo. Kính mong Thế Tôn hãy làm cho con trông thấy.”

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch nói với Đức Phật Đa Bảo rằng:

“Diệu Âm Bồ-tát này muốn được thấy Ngài.”

Khi ấy Đa Bảo Như Lai bảo Diệu Âm Bồ-tát rằng:

“Lành thay, lành thay! Ông vì cúng dường Đức Phật Năng Tịch, muốn nghe Kinh Pháp Hoa, cùng muốn thấy Diệu Cát Tường Bồ-tát và các vị khác nên mới đến đây.”

Lúc bấy giờ Hoa Đức Bồ-tát bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vị Diệu Âm Bồ-tát này đã gieo trồng căn lành và tu công đức gì mà có thần lực như thế?”

Phật bảo Hoa Đức Bồ-tát:

“Vào thuở quá khứ có Đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Quốc độ tên là Hiện Nhất Thiết Thế Gian. Kiếp tên là Hỷ Kiến. Suốt 1.200 năm, Diệu Âm Bồ-tát đã dùng trăm ngàn loại âm nhạc để cúng dường Đức Phật Vân Lôi Âm Vương và cũng dâng lên 84.000 bình bát bảy báu. Do quả báo của nhân duyên đó nên nay sanh ở cõi nước của Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí và có thần lực như thế.

Này Hoa Đức! Ý ông nghĩ sao?

Diệu Âm Bồ-tát đã cúng dường âm nhạc và dâng lên bình bát báu cho Đức Phật Vân Lôi Âm Vương thuở đó nào có ai khác, nay chính là Diệu Âm Đại Bồ-tát.

Này Hoa Đức! Diệu Âm Bồ-tát đã từng cúng dường và thân cận vô lượng chư Phật. Từ xưa đã gieo trồng căn lành và lại gặp Hằng Hà sa tỷ ức nayuta chư Phật.

Này Hoa Đức! Ông chỉ thấy thân của Diệu Âm Bồ-tát đang ở tại nơi đây. Nhưng vị Bồ-tát này hóa hiện đủ mọi thân hình ở khắp nơi để thuyết giảng Kinh điển này cho các chúng sanh.

– Hoặc hiện thân Phạm Vương;
– Hoặc hiện thân Năng Thiên Đế;
– Hoặc hiện thân Tự Tại Thiên;
– Hoặc hiện thân Đại Tự Tại Thiên;
– Hoặc hiện thân thiên đại tướng quân;
– Hoặc hiện thân Đa Văn Thiên Vương;
– Hoặc hiện thân Chuyển Luân Thánh Vương;
– Hoặc hiện thân tiểu vương;
– Hoặc hiện thân trưởng giả;
– Hoặc hiện thân cư sĩ;
– Hoặc hiện thân tể quan;
– Hoặc hiện thân Phạm Chí;
– Hoặc hiện thân Bhikṣu [bíc su], Bhikṣuṇī [bíc su ni], Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ;
– Hoặc hiện thân phu nhân của trưởng giả hay cư sĩ;
– Hoặc hiện thân phu nhân của tể quan;
– Hoặc hiện thân phu nhân của Phạm Chí;
– Hoặc hiện thân đồng nam, đồng nữ;
– Hoặc hiện thân trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân mà thuyết giảng Kinh này.

Ở những nơi có địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh cùng các chướng nạn, ngài đều có thể cứu hộ. Cho đến trong hậu cung của vua, ngài cũng có thể biến hiện thân nữ mà thuyết giảng Kinh này.

Này Hoa Đức! Diệu Âm Bồ-tát có thể cứu hộ hết thảy chúng sanh ở Thế giới Kham Nhẫn. Diệu Âm Bồ-tát này có thể biến hóa đủ mọi thân hình như thế. Ngài ở tại Thế giới Kham Nhẫn thuyết giảng Kinh điển này cho các chúng sanh mà thần thông biến hóa và trí tuệ chẳng hề tổn giảm.

Ánh sáng trí tuệ của vị Bồ-tát này chiếu soi Thế giới Kham Nhẫn, khiến tất cả mỗi chúng sanh được sự hiểu biết của mình. Trong các thế giới nhiều như cát sông Hằng ở mười phương cũng lại như vậy.

Nếu đáng dùng thân Thanh Văn để hóa độ, ngài liền hiện thân Thanh Văn mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Độc Giác để hóa độ, ngài liền hiện thân Độc Giác mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Bồ-tát để hóa độ, ngài liền hiện thân Bồ-tát mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Phật hóa độ, ngài liền hiện thân Phật mà thuyết Pháp cho họ.

Và như vậy, ngài dùng đủ mọi thân hình mà tùy cơ hóa độ, cho đến nếu cần hiện diệt độ để độ thoát, sẽ liền thị hiện diệt độ.

Này Hoa Đức! Diệu Âm Đại Bồ-tát thành tựu sức đại thần thông và trí tuệ, việc đó là như vậy.”

Lúc bấy giờ Hoa Đức Bồ-tát bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Vị Diệu Âm Bồ-tát này đã gieo trồng căn lành rất sâu dày.

Bạch Thế Tôn! Vị Bồ-tát này đã trụ chánh định gì mà có thể biến hiện để độ thoát chúng sanh như thế?”

Phật bảo Hoa Đức Bồ-tát:

“Thiện nam tử! Chánh Định đó tên là Hiện Nhất Thiết Sắc Thân. Diệu Âm Bồ-tát trụ trong chánh định này nên mới có thể làm lợi ích vô lượng chúng sanh như thế.”

Khi thuyết Phẩm Diệu Âm Bồ-tát này, 84.000 vị tùy tùng với Diệu Âm Bồ-tát đều đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chánh Định. Vô lượng Bồ-tát ở Thế giới Kham Nhẫn cũng đắc chánh định và tổng trì đó.

Khi Diệu Âm Đại Bồ-tát đã cúng dường Đức Phật Năng Tịch cùng tháp của Đức Phật Đa Bảo xong, ngài trở về cõi nước của mình. Các cõi nước đi qua đều chấn động sáu cách, mưa xuống hoa sen báu và vang lên trăm ngàn loại âm nhạc.

Khi đã trở về cõi nước của mình, cùng với 84.000 Bồ-tát vây quanh, ngài đi đến chỗ của Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí và thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con đã đến Thế giới Kham Nhẫn để làm lợi ích cho chúng sanh. Con diện kiến Đức Phật Năng Tịch cùng thấy tháp của Đức Phật Đa Bảo, rồi đã lễ bái và cúng dường. Con cũng lại thấy Diệu Cát Tường Pháp Vương Tử Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Đắc Cần Tinh Tấn Lực Bồ-tát, Dũng Thí Bồ-tát, và những vị khác. Con cũng lại khiến cho 84.000 Bồ-tát nơi đây đắc Hiện Nhất Thiết Sắc Thân Chánh Định.”

Khi đã thuyết Phẩm Diệu Âm Bồ-tát từ lúc đến và lúc trở về xong, 42.000 thiên tử đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Hoa Đức Bồ-tát đắc Pháp Hoa Chánh Định.

♦ PHẨM 25: QUÁN THẾ ÂM BỒ-TÁT PHỔ MÔN

Lúc bấy giờ Vô Tận Ý Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, chắp tay hướng Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ-tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?”

Phật bảo Vô Tận Ý Bồ-tát:

“Thiện nam tử! Nếu có vô lượng tỷ ức chúng sanh đang chịu các khổ não mà nghe đến Quán Thế Âm Bồ-tát, rồi họ nhất tâm xưng danh hiệu ngài. Quán Thế Âm Bồ-tát lập tức quán sát âm thanh đó và họ đều được giải thoát.

Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, như bị rơi vào trong lửa lớn, lửa chẳng thể đốt. Đây là do sức uy thần của Bồ-tát.

Nếu bị nước lớn cuốn trôi mà xưng danh hiệu ngài thì liền gặp chỗ cạn.

Nếu có một tỷ ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, và châu báu nên phải vào trong biển lớn, giả sử bị gió bão và thổi thuyền của họ trôi dạt tới nước quỷ bạo ác. Trong đó dù chỉ có một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thì các người ấy đều được thoát khỏi nạn quỷ bạo ác.

Do nhân duyên này mà tên là Quán Thế Âm.

Nếu lại có người sắp bị hại mà xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thì dao gậy của người cầm liền gãy từng đoạn và liền được giải thoát.

Nếu quỷ tiệp tật và quỷ bạo ác đầy khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới muốn đến não loạn người, nhưng khi nghe họ xưng niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì những ác quỷ đó còn không thể dùng mắt dữ để nhìn, huống nữa là gây hại.

Nếu lại có người, hoặc có tội hay vô tội, bị gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, khi họ xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thì thảy đều đứt rã và liền được giải thoát.

Nếu kẻ oán tặc đầy khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới và có một vị thương chủ dẫn các thương gia, họ mang theo châu báu quý và đi qua đường hiểm trở.

Trong đó có một người xướng rằng:

‘Các thiện nam tử! Chớ nên sợ hãi, các ông nên nhất tâm xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, vị Bồ-tát đó hay dùng Pháp vô úy ban cho chúng sanh. Nếu các ông xưng danh hiệu ngài thì sẽ thoát khỏi oán tặc này.’

Khi nghe xong, các thương gia đều đồng thanh niệm:

‘♪ Quy mạng Quán Thế Âm Bồ-tát.’

Do xưng danh hiệu ấy nên họ liền được giải thoát.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Đại Bồ-tát có sức uy thần rộng lớn như thế.

Nếu có chúng sanh nào nhiều tham dục mà thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì liền được lìa tham dục.

Nếu nhiều sân hận mà thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì liền được lìa sân hận.

Nếu nhiều si mê mà thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì liền được lìa si mê.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát có sức uy thần to lớn và nhiều lợi ích như thế. Cho nên chúng sanh phải luôn trì niệm.

Nếu có người nữ, giả như muốn cầu con trai và lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát thì liền sanh con trai với phước đức trí tuệ.

Giả như muốn cầu con gái thì liền sanh con gái với tướng mạo đoan chánh; do vốn đã gieo trồng phước đức đời trước nên mọi người kính mến.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát có sức uy thần như thế.

Nếu có chúng sanh nào cung kính và lễ bái Quán Thế Âm Bồ-tát, thì phước ấy không tiêu mất. Vì thế tất cả chúng sanh đều nên thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát.

Này Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh hiệu của chư Bồ-tát với số lượng bằng số cát trong 62 ức sông Hằng, lại trọn đời cúng dường y phục, ẩm thực, giường nệm, và thuốc thang.

Ý ông nghĩ sao? Công đức của thiện nam tử và thiện nữ nhân đó có nhiều chăng?”

Ngài Vô Tận Ý đáp rằng:

“Rất nhiều, thưa Thế Tôn!”

Đức Phật bảo:

“Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, cho đến chỉ một lần lễ bái cúng dường, thì phước của hai người ấy bằng nhau không khác, suốt tỷ ức kiếp cũng không thể cùng tận.

Này Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát được vô lượng vô biên phước đức và lợi ích như thế.”

Vô Tận Ý Bồ-tát bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ-tát chu du giáo hóa ở Thế giới Kham Nhẫn như thế nào? Ngài thuyết Pháp cho chúng sanh ra sao? Sức phương tiện việc đó thế nào?”

Phật bảo Vô Tận Ý Bồ-tát:

“Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật để độ thoát, Quán Thế Âm Bồ-tát liền hiện thân Phật mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Độc Giác để hóa độ, ngài liền hiện thân Độc Giác mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Thanh Văn để hóa độ, ngài liền hiện thân Thanh Văn mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Phạm Vương để hóa độ, ngài liền hiện thân Phạm Vương mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Năng Thiên Đế để hóa độ, ngài liền hiện thân Năng Thiên Đế mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Tự Tại Thiên để hóa độ, ngài liền hiện thân Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên để hóa độ, ngài liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân thiên đại tướng quân để hóa độ, ngài liền hiện thân thiên đại tướng quân mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Đa Văn Thiên Vương để hóa độ, ngài liền hiện thân Đa Văn Thiên Vương mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân tiểu vương để hóa độ, ngài liền hiện thân tiểu vương mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân trưởng giả để hóa độ, ngài liền hiện thân trưởng giả mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân cư sĩ để hóa độ, ngài liền hiện thân cư sĩ mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân tể quan để hóa độ, ngài liền hiện thân tể quan mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Phạm Chí để hóa độ, ngài liền hiện thân Phạm Chí mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ để hóa độ, ngài liền hiện thân Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hay Thanh Tín Nữ mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân phu nhân của trưởng giả, cư sĩ, tể quan, hay Phạm Chí để hóa độ, ngài liền hiện thân phu nhân mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân đồng nam hay đồng nữ để hóa độ, ngài liền hiện thân đồng nam hay đồng nữ mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, hoặc người và phi nhân để hóa độ, ngài liền đều hiện ra mà thuyết Pháp cho họ.

Nếu đáng dùng thân Chấp Kim Cang Thần để hóa độ, ngài liền hiện thân Chấp Kim Cang Thần mà thuyết Pháp cho họ.

Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát ấy thành tựu công đức như thế. Với đủ mọi thân hình, ngài chu du các cõi nước để độ thoát chúng sanh. Vì thế các ông phải nên nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát. Quán Thế Âm Đại Bồ-tát đó ở trong nguy nạn sợ hãi có thể ban điều không sợ hãi. Cho nên ở Thế giới Kham Nhẫn đều gọi ngài là bậc thí vô úy.”

Vô Tận Ý Bồ-tát thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát.”

Vô Tận Ý Bồ-tát liền cởi xâu chuỗi anh lạc châu báu trên cổ với trị giá trăm ngàn lượng vàng để dâng lên và nói rằng:

“Nhân Giả! Xin ngài hãy nhận Pháp thí của xâu chuỗi anh lạc bằng trân bảo này.”

Khi ấy Quán Thế Âm Bồ-tát không chịu nhận.

Ngài Vô Tận Ý lại nói với Quán Thế Âm Bồ-tát rằng:

“Nhân Giả! Cúi mong ngài hãy thương xót chúng tôi mà nhận lấy xâu chuỗi anh lạc này.”

Lúc bấy giờ Phật bảo Quán Thế Âm Bồ-tát:

“Ông nên thương xót Vô Tận Ý Bồ-tát này và bốn chúng đệ tử, cùng trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân mà nhận xâu chuỗi anh lạc ấy.”

Khi đó Quán Thế Âm Bồ-tát vì thương xót bốn chúng đệ tử, cùng trời, rồng, người và phi nhân mà nhận xâu chuỗi anh lạc đó, rồi chia làm hai phần: một phần dâng lên Đức Phật Năng Tịch và một phần phụng hiến tháp của Đức Phật Đa Bảo.

“Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát có sức uy thần tự tại để đi khắp Thế giới Kham Nhẫn như thế.”

Lúc bấy giờ Vô Tận Ý Bồ-tát dùng kệ hỏi Phật:

“Thế Tôn đủ diệu tướng
Con nay xin hỏi Ngài
Phật tử nhân duyên gì
Tên là Quán Thế Âm”

Viên mãn diệu tướng Tôn
Kệ đáp Vô Tận Ý
“Ông nghe hạnh Quán Âm
Khéo ứng khắp mọi nơi

Nguyện rộng sâu như biển
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn
Hầu nhiều ngàn ức Phật
Phát đại nguyện thanh tịnh

Ta vì ông lược nói
Nghe tên cùng thấy thân
Tâm niệm chớ lãng quên
Khéo diệt khổ các cõi

Giả sử sanh lòng hại
Xô rớt hầm lửa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Hầm lửa biến thành ao

Hoặc trôi dạt biển khơi
Các nạn quỷ cá rồng
Do sức niệm Quán Âm
Trên sóng nổi không chìm

Hoặc tại đỉnh Diệu Cao
Bị người xô đẩy xuống
Do sức niệm Quán Âm
Như mặt trời trên không

Hoặc bị kẻ ác rượt
Rơi xuống núi Kim Cang
Do sức niệm Quán Âm
Chẳng tổn đến mảy lông

Hoặc gặp oán tặc vây
Cầm đao muốn gây hại
Do sức niệm Quán Âm
Tức liền khởi từ tâm

Hoặc bị khổ nạn vua
Khi hành hình sắp chết
Do sức niệm Quán Âm
Đao liền gãy từng đoạn

Hoặc tù giam gông cùm
Tay chân bị xiềng xích
Do sức niệm Quán Âm
Đứt rã được giải thoát

Trù ếm các thuốc độc
Muốn hại đến thân người
Do sức niệm Quán Âm
Quay ngược lại kẻ gây

Hoặc gặp quỷ bạo ác
Rồng độc các loài quỷ
Do sức niệm Quán Âm
Thảy đều không dám hại

Hoặc thú dữ bao vây
Răng móng nhọn đáng sợ
Do sức niệm Quán Âm
Vội tháo chạy biệt tăm

Rắn độc cùng bọ cạp
Phun khí độc khói lửa
Do sức niệm Quán Âm
Nghe tiếng tự bỏ đi

Mây sấm nổ điện chớp
Mưa đá trút mưa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Lập tức được tiêu tan

Chúng sanh bị khốn ách
Vô lượng khổ bức thân
Quán Âm sức diệu trí
Khéo cứu khổ thế gian

Đầy đủ sức thần thông
Rộng tu trí phương tiện
Các cõi nước mười phương
Không nơi nào chẳng hiện

Mọi loài các thú dữ
Địa ngục quỷ bàng sanh
Sanh già bệnh chết khổ
Lần lần sẽ diệt tan

Chân quán thanh tịnh quán
Trí tuệ quán rộng lớn
Bi quán và từ quán
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

Vô cấu thanh tịnh quang
Trời tuệ phá đen tối
Khéo trừ tai gió lửa
Chiếu sáng khắp thế gian

Thể bi giới sấm vang
Lòng từ như mây lớn
Pháp cam lộ mưa thấm
Lửa phiền não diệt tan

Tranh tụng đến chỗ quan
Trong quân trận sợ hãi
Do sức niệm Quán Âm
Các oán đều lui tan

Diệu âm Quán Thế Âm
Phạm âm hải triều âm
Vượt hơn tiếng thế gian
Cho nên phải luôn niệm

Niệm niệm chớ sanh nghi
Tịnh thánh Quán Thế Âm
Trong khổ não tử ách
Bảo hộ làm chỗ nương

Đủ tất cả công đức
Mắt hiền trông chúng sanh
Biển phước tụ vô lượng
Vì thế nên đảnh lễ”

Lúc bấy giờ Trì Địa Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi ngài ở trước Phật thưa rằng:

“Thưa Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe về Phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát với Đạo nghiệp tự tại và sức thần thông phổ môn thị hiện của ngài, thì phải biết công đức của người đó không nhỏ.”

Khi Phật thuyết Phẩm Phổ Môn này thì trong chúng hội có 84.000 chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

♦ PHẨM 26: TỔNG TRÌ

Lúc bấy giờ Dược Vương Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo lộ vai phải, chắp tay hướng Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào có thể thọ trì Kinh Pháp Hoa, hoặc đọc tụng rành rẽ, hay biên chép Kinh này, người đó sẽ được bao nhiêu phước đức?”

Phật bảo ngài Dược Vương:

“Ý ông nghĩ sao? Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào cúng dường tám triệu ức nayuta Hằng Hà sa chư Phật, phước đức của người ấy có nhiều chăng?”

“Rất nhiều, thưa Thế Tôn!”

Đức Phật bảo:

“Nếu thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào mà có thể đối với Kinh này, dù chỉ một bài kệ bốn câu, thọ trì đọc tụng, giảng giải nghĩa lý, và như thuyết tu hành, thì công đức sẽ rất nhiều.”

Lúc bấy giờ Dược Vương Bồ-tát thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con nay sẽ truyền cho những vị thuyết Pháp một thần chú để bảo hộ họ.”

Chú thuyết như vầy:

|| anye manye mane mamane citte carite same samitā viśānte mukte muktatame same aviṣame samasame jaye [kṣaye] akṣaye akṣiṇe śānte samite dhāraṇi ālokabhāṣe pratyavekṣaṇi nidhiru abhyantara-niviṣṭe abhyantara-pāriśuddhi-mutkule araḍe paraḍe sukāṅkṣi asamasame buddhavilokite dharmaparīkṣite saṁghanirghoṣaṇi [nirghoṇi] bhayābhayaviśodhani mantre mantrākṣayate rute rutakauśalye akṣaye akṣayavanatāye [vakkule] valoḍra amanyanatāye [svāhā] ||

|| a ni e, ma ni e, ma ne, ma ma ne, chít te, cha ri te, sa me, sa mi ta, vi san te, múc te, múc ta ta me, sa me, a vi sa me, sa ma sa me, cha de, [cờ sa de], ác sa de, ác si ne, san te, sa mi te, đa ra ni, a lô ca ba se, bờ ra ty a vắt sa ni, ni đi ru, a bi an ta ra – ni vi sờ te, a bi an ta ra – ba ri su đi – muốt cu le, a ra đe, ba ra đe, su cân cờ si, a sa ma sa me, bu đà vi lô ki te, đa ma ba ri cờ si te, sâm ga nia gô sa ni, [nia gô ni] bai da bai da vi sô đa ni, man tre, man tra cờ sa da te, ru te, ru ta cau sa ly e, ác sa de, ác sa da va na ta de, [vác cu le], va lô đờ ra, a ma ni a na ta de, [sờ qua ha] ||

“Thưa Thế Tôn! Thần chú này đã có 62 ức Hằng Hà sa chư Phật tuyên thuyết. Nếu có kẻ nào hủy phạm vị Pháp sư đó, thì cũng tức là hủy phạm chư Phật kia.”

Khi ấy Đức Phật Năng Tịch ngợi khen Dược Vương Bồ-tát rằng:

“Lành thay, lành thay, Dược Vương! Ông vì lòng từ mẫn muốn ủng hộ vị Pháp sư đó nên tuyên thuyết thần chú này để mang đến nhiều lợi ích cho chúng sanh.”

Lúc bấy giờ Dũng Thí Bồ-tát thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con vì người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa mà cũng tuyên thuyết thần chú để ủng hộ. Nếu vị Pháp sư đó đắc tổng trì này thì sẽ không có quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ xú uế, quỷ khởi thi, quỷ úng hình, hay loài ngạ quỷ nào mà có thể tìm chỗ hở để trục lợi.”

Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

|| jvale mahājvale ukke [tukke] mukke aḍe aḍāvati nṛtye nṛtyāvati iṭṭini viṭṭini ciṭṭini nṛtyani nṛtyāvati [svāhā] ||

|| chờ qua le, ma ha chờ qua le, úc ke, [túc ke], múc ke, a đe, a đa qua ti, nơ ri ty e, nơ ri ty a qua ti, ít ti ni, vít ti ni, chít ti ni, nơ ri ty a ni, nơ ri ty a qua ti, [sờ qua ha] ||

“Thưa Thế Tôn! Thần chú này đã có chư Phật nhiều như cát sông Hằng tuyên thuyết, và hết thảy chư Phật kia cũng đều tùy hỷ. Nếu có kẻ nào hủy phạm vị Pháp sư đó, thì cũng tức là hủy phạm chư Phật kia.”

Lúc bấy giờ Đa Văn Hộ Thế Thiên Vương thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Vì thương xót chúng sanh, con cũng muốn ủng hộ vị Pháp sư đó nên thuyết chú này.”

Chú thuyết như vầy:

|| aṭṭe [taṭṭe] naṭṭe vanaṭṭe anaḍe nāḍi kunaḍi [svāhā] ||

|| át te, [tát te], nát te, va nát te, a na đe, na đi, cu na đi, [sờ qua ha] ||

“Thưa Thế Tôn! Bằng vào thần chú này, con sẽ ủng hộ vị Pháp sư đó. Con cũng sẽ đích thân ủng hộ người thọ trì Kinh này, khiến trong vòng 100 yojana sẽ không có những hoạn nạn xảy đến thân họ.”

Lúc bấy giờ Trì Quốc Thiên Vương cũng đang hiện diện trong Pháp hội và cùng ngàn vạn ức nayuta tầm hương thần cung kính vây quanh.

Ngài đến ở trước Phật, chắp tay và thưa Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con cũng dùng thần chú để ủng hộ người thọ trì Kinh Pháp Hoa.”

Chú thuyết như vầy:

|| agaṇe gaṇe gauri gandhāri caṇḍāli mātaṅgi [pukkasi] saṁkule vrūsali sisi svāhā ||

|| a ga ne, ga ne, gau ri, gan đa ri, chân đa li, ma tân gi, [búc ca si], sâm cu le, vờ ru sa li, si si, sờ qua ha ||

“Thưa Thế Tôn! Thần chú này đã có 42 Hằng Hà sa chư Phật tuyên thuyết. Nếu có kẻ nào hủy phạm vị Pháp sư đó, thì cũng tức là hủy phạm chư Phật kia.”

Lúc bấy giờ có các vị quỷ nữ bạo ác:
– Vị thứ nhất tên là Kết Phược,
– Vị thứ nhì tên là Ly Kết,
– Vị thứ ba tên là Khúc Xỉ,
– Vị thứ tư tên là Hoa Xỉ,
– Vị thứ năm tên là Hắc Xỉ,
– Vị thứ sáu tên là Đa Phát,
– Vị thứ bảy tên là Vô Yếm Túc,
– Vị thứ tám tên là Trì Anh Lạc,
– Vị thứ chín tên là Hà Sở,
– Vị thứ mười tên là Đoạt Nhất Thiết Chúng Sanh Tinh Khí.

Mười vị quỷ nữ bạo ác này, cùng Quỷ Tử Mẫu với con và hàng quyến thuộc của bà, đều đến chỗ của Phật và đồng thanh thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì Kinh Pháp Hoa, và diệt trừ các hoạn nạn cho họ. Nếu có kẻ nào tìm chỗ hở của vị Pháp sư đó thì chẳng thể được.”

Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

|| iti me iti me iti me iti me iti me
|
| nime nime nime nime nime
|
| ruhe ruhe ruhe ruhe [ruhe]
|
| stuhe stuhe stuhe stuhe stuhe [svāhā] ||

|| i ti, me, i ti, me, i ti, me, i ti, me, i ti, me
|
| ni me, ni me, ni me, ni me, ni me
|
| ru he, ru he, ru he, ru he, [ru he]
|
| sờ tu he, sờ tu he, sờ tu he, sờ tu he, sờ tu he, [sờ qua ha] ||

“[Thưa Thế Tôn!] Kẻ phá hoại có thể leo lên đầu chúng con, nhưng chớ có não loạn vị Pháp sư đó. Sẽ không có quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ đói, quỷ xú uế, quỷ khởi thi, quỷ nhập xác chết đi giết người, quân thần ác tinh, quỷ điên hắc sắc, quỷ điên cuồng, quỷ tiệp tật khởi thi, người khởi thi quỷ; sẽ không có bệnh sốt nào từ một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, hay cho đến bảy ngày; sẽ không có bất cứ bệnh sốt nào; sẽ không có loài nào hiện hình của nam tử hay nữ nhân, hoặc bé trai hay bé gái, cho đến trong mộng chúng cũng chẳng thể não hại.”

Liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

“Nếu kẻ nào không thuận chú này
Não loạn hại vị Pháp sư đây
Đầu sẽ bị vỡ thành bảy mảnh
Gãy như là nhánh cây hoa lan

Bằng quả báo tội giết mẹ cha
Hoặc như là pha ép trộn dầu
Hay cân đo lừa dối gạt người
Tội phá Tăng Bhikṣu Thiên Nhiệt

Pháp sư này ai dám hủy phạm
Tai ương như thế sẽ mắc lấy”

Khi các vị quỷ nữ bạo ác nói bài kệ đó xong, họ thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ đích thân ủng hộ người thọ trì đọc tụng và tu hành Kinh này, hầu khiến họ được an ổn, lìa xa mọi hoạn nạn và tiêu trừ mọi thuốc độc.”

Phật bảo các vị quỷ nữ bạo ác:

“Lành thay, lành thay! Các cô như chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên Kinh Pháp Hoa, thì đã có phước đức chẳng thể suy lường. Huống nữa là ủng hộ những ai thọ trì trọn vẹn và cúng dường Kinh này với hương hoa, xâu chuỗi anh lạc, hương bột, hương xoa, hương đốt, tràng phan, lọng che, âm nhạc; họ lại thắp muôn loại đèn, như là đèn bơ, đèn dầu, đèn dầu thơm, đèn dầu hoa lài, đèn dầu hoa ngọc lan, đèn dầu hoa vũ thời, đèn dầu hoa sen xanh, và trăm ngàn loại đèn như thế để cúng dường.

Này Hà Sở! Các cô cùng quyến thuộc nên ủng hộ vị Pháp sư đó như vậy.”

Khi thuyết Phẩm Tổng Trì này xong, 68.000 người đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

♦ PHẨM 27: BỔN SỰ CỦA VUA DIỆU TRANG NGHIÊM

Lúc bấy giờ Phật bảo các đại chúng:

“Vào thuở quá khứ xa xưa vô lượng vô biên vô số kiếp chẳng thể nghĩ bàn, có Đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Quốc độ tên là Quang Minh Trang Nghiêm. Kiếp tên là Hỷ Kiến.

Trong thời giáo hóa của Đức Phật kia có một vị quốc vương tên Diệu Trang Nghiêm. Phu nhân của nhà vua tên là Tịnh Đức. Phu nhân có hai người con. Vị vương tử thứ nhất tên là Tịnh Tạng. Vị vương tử thứ nhì tên Tịnh Nhãn. Hai vị vương tử này có sức đại uy thần với phước đức trí tuệ. Họ đã từ xa xưa tu hành Đạo Bồ-tát.

Các Pháp như là: Bố Thí Độ, Trì Giới Độ, Nhẫn Nhục Độ, Tinh Tấn Độ, Thiền Định Độ, Diệu Tuệ Độ, Phương Tiện Độ, Từ Bi Hỷ Xả, và cho đến 37 Phẩm Trợ Đạo. Họ thảy đều minh liễu thông đạt.

Họ lại đắc Bồ-tát Tịnh Chánh Định, Nhật Tinh Tú Chánh Định, Tịnh Quang Chánh Định, Tịnh Sắc Chánh Định, Tịnh Chiếu Minh Chánh Định, Trường Trang Nghiêm Chánh Định, và Đại Uy Đức Tạng Chánh Định. Đối với các chánh định này, họ cũng đều thông đạt.

Lúc bấy giờ Đức Phật kia vì muốn dẫn đạo vua Diệu Trang Nghiêm cùng thương xót chúng sanh, Ngài đã thuyết Kinh Pháp Hoa này.

Khi ấy hai vị vương tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn đến chỗ của mẹ, chắp mười đầu ngón tay và thưa rằng:

‘Xin mẫu hậu hãy đi đến Đạo Tràng của Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí. Chúng con cũng sẽ đi theo để thân cận, cúng dường và lễ bái Ngài.

Vì sao thế? Bởi Đức Phật ấy đang thuyết Kinh Pháp Hoa cho tất cả trời người. Chúng ta nên đi nghe và thọ trì.’

Phu nhân bảo các con rằng:

‘Phụ vương của các con tin theo ngoại đạo và chấp sâu vào pháp của Phạm Chí. Các con nên đến thưa hỏi và khuyên cha cùng đi.’

Vương tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn chắp mười đầu ngón tay và thưa với mẹ rằng:

‘Chúng con là Pháp Vương Tử, nhưng sao lại sanh ở nhà tà kiến này!’

Phu nhân bảo các con rằng:

‘Các con nên thương xót phụ vương mà hóa hiện thần biến. Nếu cha của các con thấy được, tâm sẽ thanh tịnh, hoặc giả là sẽ nghe chúng ta mà đi đến chỗ của Phật.’

Bởi xót thương phụ vương, hai vị vương tử này vọt lên hư không với độ cao bằng bảy cây cọ và hóa hiện mọi thần biến:

– đi đứng nằm ngồi ở trong hư không;
– phần trên của thân vọt ra nước;
– phần dưới của thân phun ra lửa;
– phần dưới của thân vọt ra nước;
– phần trên của thân phun ra lửa;
– hoặc hiện thân lớn đầy khắp hư không;
– lại hiện ra thân nhỏ, rồi từ thân nhỏ lại hiện ra thân lớn;
– ở không trung biến mất và hốt nhiên xuất hiện trên đất;
– vào trong đất như vào trong nước;
– đi trên nước như đi trên đất.

Hai vị vương tử hiện ra đủ mọi thần biến như thế để khiến cho tâm của phụ vương họ được thanh tịnh và sanh tín giải. Khi thấy các con mình có thần lực như thế, lòng của quốc vương vui mừng khôn xiết và được điều chưa từng có.

Ngài chắp tay hướng về các con của mình mà nói rằng:

‘Thầy của các con là ai? Các con là đệ tử của ai?’

Hai vị vương tử thưa rằng:

‘Đại vương! Bây giờ có Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí đang ngồi trên Pháp tòa ở dưới cội Đạo thụ bảy báu và rộng giảng Kinh Pháp Hoa cho hết thảy trời người trong thế gian. Đức Phật kia là thầy của chúng con. Chúng con là đệ tử của Ngài.’

Quốc vương bảo các con của mình rằng:

‘Trẫm nay cũng muốn thấy sư phụ của các con. Chúng ta hãy cùng đi!’

Hai vị vương tử liền từ trên không hạ xuống, họ đến chỗ của mẹ và chắp tay thưa rằng:

‘Nay phụ vương đã sanh tín giải và có thể phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng con đã vì cha mà làm Phật sự, vậy xin mẫu hậu cho phép chúng con được xuất gia tu Đạo ở nơi Đức Phật kia.’

Lúc bấy giờ hai vị vương tử muốn tuyên lại ý nguyện ở trên nên dùng kệ thưa với mẹ rằng:

‘Mong mẫu hậu cho phép chúng con
Được xuất gia làm bậc Đạo Nhân
Chư Phật xuất thế rất khó gặp
Chúng con đây muốn theo học Phật

Rất quý hiếm như hoa linh thụy
Gặp được Phật lại càng khó hơn
Thoát các nạn cũng lại rất khó
Xin cho phép chúng con xuất gia’

Phu nhân liền bảo rằng:

‘Mẹ cho phép các con xuất gia. Vì sao thế? Bởi chư Phật rất khó gặp.’

Hai vị vương tử liền thưa với cha mẹ rằng:

‘Lành thay, thưa cha mẹ! Xin cha mẹ giờ hãy đi đến Đạo Tràng của Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí để thân cận và cúng dường.

Vì sao thế? Bởi chư Phật rất khó gặp, hiếm như hoa linh thụy nở. Việc ấy giống như có một con rùa chỉ còn một mắt mà gặp được một khúc gỗ có lỗ thủng đang trôi. Do phước đức sâu dày ở đời trước nên chúng con trong đời này mới gặp Phật Pháp. Thế nên, phụ vương và mẫu hậu hãy nghe lời chúng con nói và cho phép chúng con đi xuất gia.

Vì sao thế? Bởi chư Phật rất khó gặp và sanh vào thời có Phật còn trụ thế lại càng khó hơn.’

Lúc bấy giờ, hậu cung của vua Diệu Trang Nghiêm có 84.000 người, họ thảy đều có thể thọ trì Kinh Pháp Hoa này.

Tịnh Nhãn Bồ-tát đã từ lâu thông đạt Pháp Hoa Chánh Định. Còn Tịnh Tạng Bồ-tát đã ở trong vô lượng tỷ ức kiếp thông đạt Ly Chư Ác Thú Chánh Định, là vì ngài muốn khiến tất cả chúng sanh xa lìa các đường ác.

Phu nhân của nhà vua đắc Chư Phật Tập Chánh Định và có thể biết các tạng bí mật của chư Phật.

Hai vị vương tử đã dùng sức phương tiện như thế, khéo giáo hóa cha mình, khiến tâm sanh tín giải, và yêu mến Phật Pháp.

Khi đó, vua Diệu Trang Nghiêm cùng với quần thần và hàng quyến thuộc, Phu nhân Tịnh Đức cùng với các cung nữ ở hậu cung và hàng quyến thuộc, hai người con của nhà vua cùng với 42.000 người, họ đồng đi đến chỗ của Phật. Khi đến nơi, họ cúi đầu đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, nhiễu Phật ba vòng và đứng qua một bên.

Lúc bấy giờ Đức Phật kia thuyết Pháp cho nhà vua. Ngài chỉ dạy sự lợi ích an lạc và khiến cho nhà vua vui mừng khôn xiết.

Khi ấy, vua Diệu Trang Nghiêm cùng phu nhân của ngài cởi xâu chuỗi anh lạc trân châu với trị giá bằng cả trăm ngàn lượng vàng và rải lên Đức Phật. Ở trong hư không, chúng hóa thành một đài báu với bốn trụ. Trong đài báu có giường báu lớn với một tỷ y phục cõi trời để trang trí xung quanh. Trên đó có một vị Phật đang ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen và phóng đại quang minh.

Khi ấy, vua Diệu Trang Nghiêm nghĩ như vầy:

‘Thân Phật rất hiếm có, đoan nghiêm thù đặc, và thành tựu sắc tướng vi diệu đệ nhất.’

Bấy giờ Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí bảo bốn chúng đệ tử rằng:

‘Các ông có thấy vua Diệu Trang Nghiêm đang chắp tay đứng ở trước Ta không? Vị vua này sẽ trở thành Bhikṣu trong giáo Pháp của Ta. Ngài sẽ tinh tấn tu hành, hộ trì Đạo Pháp của chư Phật và sẽ thành Phật, hiệu là Kiên Cố Thụ Vương. Quốc độ tên là Đại Quang. Kiếp tên là Đại Cao Vương. Đức Phật Kiên Cố Thụ Vương ấy có vô lượng chư Bồ-tát và vô lượng Thanh Văn. Cõi nước đó bằng phẳng và công đức như thế!

Sau đó, nhà vua liền nhường ngôi cho người em của mình, rồi cùng với phu nhân, hai vị vương tử, và hàng quyến thuộc mà xuất gia tu Đạo trong giáo Pháp của Phật. Sau khi nhà vua đã xuất gia, trong 84.000 năm, ngài luôn chuyên cần tinh tấn tu hành Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Về sau, ngài đắc Nhất Thiết Tịnh Công Đức Trang Nghiêm Chánh Định, rồi ngài liền bay lên hư không với độ cao bằng bảy cây cọ và thưa với Phật rằng:

‘Thưa Thế Tôn! Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn của con đã hoàn tất Phật sự. Với thần thông biến hóa, họ đã chuyển hóa tà tâm của con, khiến con an trụ trong Phật Pháp, và thấy được Thế Tôn. Hai vị đó là Thiện Tri Thức của con. Vì muốn con phát khởi căn lành đời trước và muốn con được lợi ích, cho nên họ mới đến sanh ở nhà con.’

Lúc bấy giờ Đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí bảo vua Diệu Trang Nghiêm rằng:

‘Như thị, như thị! Đúng như lời ông nói. Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào gieo trồng căn lành, thì đời đời họ sẽ gặp Thiện Tri Thức. Vị Thiện Tri Thức ấy có thể làm Phật sự, chỉ dạy điều lợi ích an lạc, và khiến họ vào Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này đại vương! Phải biết rằng, gặp Thiện Tri Thức là một nhân duyên lớn, bởi vì sẽ được ngài giáo hóa, khiến thấy được Phật và phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này đại vương! Ông có thấy hai người con của ngài đây chăng? Hai vị này đã từng cúng dường và thân cận cung kính 65 tỷ ức nayuta Hằng Hà sa chư Phật. Họ thọ trì Kinh Pháp Hoa ở nơi của chư Phật, thương xót các chúng sanh tà kiến, và muốn dìu dắt chúng sanh trụ nơi chánh kiến.’

Vua Diệu Trang Nghiêm liền từ hư không hạ xuống và thưa với Đức Phật kia rằng:

‘Thưa Thế Tôn! Như Lai rất là hiếm có. Do bởi công đức và trí tuệ, nên hào quang trên đảnh nhục kế của Phật sáng chói hiển hách. Mắt Phật dài, rộng, và có màu xanh biếc. Tướng bạch hào ở giữa đôi chân mày trắng như ánh trăng rằm. Răng Phật trắng, đều đặn, và luôn có quang minh. Môi Phật có màu sắc đỏ thắm như màu của trái gấc.’

Khi vua Diệu Trang Nghiêm đã tán thán vô lượng tỷ ức công đức như thế xong, ngài ở trước Như Lai, nhất tâm chắp tay, và lại thưa với Đức Phật kia rằng:

‘Thưa Thế Tôn! Pháp của Như Lai rất hiếm có. Như Lai thành tựu viên mãn công đức vi diệu chẳng thể nghĩ bàn. Giáo Pháp và giới luật của Phật mang đến sự bình an và vui vẻ. Từ nay về sau, con sẽ không bao giờ chạy theo tâm ý của mình, không sanh tà kiến, kiêu mạn, sân hận, hoặc bất kỳ những tâm ác nào.’

Khi nói lời ấy xong, ngài đảnh lễ Đức Phật kia rồi từ biệt.”

Phật bảo đại chúng rằng:

“Ý các ông nghĩ sao? Vua Diệu Trang Nghiêm thuở đó nào có ai khác, nay chính là Hoa Đức Bồ-tát. Phu nhân Tịnh Đức, nay chính là Phật Tiền Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng Bồ-tát. Phu nhân Tịnh Đức vì xót thương vua Diệu Trang Nghiêm và hàng quyến thuộc, nên mới sanh trong đó. Còn hai vị vương tử, nay chính là Dược Vương Bồ-tát và Dược Thượng Bồ-tát.

Dược Vương Bồ-tát và Dược Thượng Bồ-tát đã thành tựu các công đức lớn như thế. Họ đã gieo trồng căn lành ở trong vô lượng tỷ ức chư Phật và thành tựu các công đức lành chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có ai biết được danh hiệu của hai vị Bồ-tát này, thì hết thảy hàng trời người trong thế gian đều phải nên lễ bái.”

Khi Phật thuyết Phẩm Bổn Sự của Vua Diệu Trang Nghiêm, có 84.000 người xa rời trần cấu. Ở trong tất cả pháp, họ đắc Pháp nhãn thanh tịnh.

♦ PHẨM 28: PHỔ HIỀN BỒ-TÁT KHUYẾN PHÁT

Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ-tát với sức thần thông tự tại, uy đức cùng danh xưng vang khắp, ngài đã đến từ phương đông cùng với vô lượng vô biên chẳng thể tính đếm kể số lượng chư đại Bồ-tát. Các cõi nước đi qua thảy đều chấn động, có hoa sen báu rơi xuống và trỗi lên vô lượng tỷ ức loại âm nhạc.

Lại cũng có vô số trời, rồng, quỷ tiệp tật, tầm hương thần, phi thiên, kim sí điểu, nghi thần, đại mãng xà, người và phi nhân vây quanh Phổ Hiền Bồ-tát. Họ cùng đi theo ngài và mỗi vị đều hiện sức uy đức thần thông. Khi đến núi Thứu Phong tại Thế giới Kham Nhẫn, họ đảnh lễ Đức Phật Năng Tịch, rồi đi nhiễu bên phải bảy vòng.

Tiếp đến, Phổ Hiền Bồ-tát thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Con ở quốc độ của Đức Phật Bảo Uy Đức Thượng Vương và từ nơi xa đã nghe ở Thế giới Kham Nhẫn đang thuyết Kinh Pháp Hoa. Thế nên, con cùng với vô lượng vô biên tỷ ức chư Bồ-tát đều đồng đến nghe và thọ trì.

Ngưỡng mong Thế Tôn hãy thuyết giảng.

Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn đắc Kinh Pháp Hoa này thì phải làm sao?”

Phật bảo Phổ Hiền Bồ-tát:

“Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thành tựu bốn Pháp thì sẽ đắc Kinh Pháp Hoa này:

1. Người đó được chư Phật hộ niệm.
2. Người đó gieo trồng căn lành.
3. Người đó nhập chánh định.
4. Người đó phát tâm muốn cứu độ hết thảy chúng sanh.

Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào thành tựu bốn Pháp như thế, họ chắc chắn sẽ đắc Kinh Pháp Hoa này.”

Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ-tát thưa với Phật rằng:

“Thưa Thế Tôn! Trong đời ác trược của 500 năm sau cùng, nếu có ai thọ trì Kinh điển này, con sẽ bảo hộ, diệt trừ các hoạn nạn, và khiến họ được an ổn. Không ai có thể trục lợi người ấy, hoặc giả là ma, con của ma, ma nữ, ma dân, hoặc bị ma nhập, quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ úng hình, quỷ hút tinh khí, quỷ khởi thi, quỷ xú uế, quỷ nhập xác chết đi giết người, hay kẻ xấu não loạn–tất cả đều chẳng thể làm hại.

Hoặc giả người này đang đi hay đứng và đọc tụng Kinh này, khi ấy con sẽ cưỡi voi trắng chúa sáu ngà và cùng chư đại Bồ-tát đến nơi đó. Con sẽ hiện thân, bảo hộ cúng dường, an ủi tâm họ, và cũng là vì cúng dường Kinh Pháp Hoa.

Hoặc giả người ấy đang ngồi và tư duy Kinh này, lúc đó con cũng sẽ cưỡi voi trắng chúa và hiện thân ở trước họ. Nếu người ấy quên mất một câu hay một bài kệ của Kinh Pháp Hoa, thì con sẽ chỉ dạy và cùng họ đọc tụng cho đến khi thông thạo.

Lúc bấy giờ, người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa sẽ thấy được thân con, lòng vui mừng vô cùng và càng thêm tinh tấn. Do thấy được con, họ sẽ liền đắc chánh định và các tổng trì như là: Toàn Tổng Trì, Bách Thiên Vạn Ức Toàn Tổng Trì, và Pháp Âm Phương Tiện Tổng Trì. Họ sẽ đắc các tổng trì như thế.

Thưa Thế Tôn! Trong đời ác trược của 500 năm sau cùng, nếu có những vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, hoặc Thanh Tín Nữ nào thành khẩn, thọ trì, đọc tụng, biên chép, hay muốn tu tập Kinh Pháp Hoa này, thì trong 21 ngày nên nhất tâm tinh tấn. Lúc 21 ngày hoàn mãn, con sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà với vô lượng Bồ-tát vây quanh. Ở trước người đó, con sẽ hiện một thân hình mà hết thảy chúng sanh đều hoan hỷ muốn thấy, để thuyết Pháp và chỉ dạy sự lợi ích an lạc. Con cũng sẽ truyền cho họ một thần chú. Bởi đắc tổng trì đó nên sẽ không có loài phi nhân nào có thể phá hoại và họ cũng chẳng bị người nữ mê hoặc. Con cũng sẽ đích thân luôn bảo hộ người ấy. Kính mong Thế Tôn cho phép con tuyên thuyết thần chú này.”

Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

|| adaṇḍe daṇḍapati daṇḍāvartani daṇḍakuśale daṇḍasudhāri sudhārapati buddhapaśyane sarvadhāraṇi āvartani saṁvartani saṁghaparīkṣite saṁghanirghātani dharmaparīkṣite sarva-sattva-rutakauśalyānugate siṁhavikrīḍite [anuvarte vartani vartāli svāhā] ||

|| a đan đe, đan đa ba ti, đan đa qua ta ni, đan đa cu sa le, đan đa su đa ri, su đa ra ba ti, bu đà ba si a ne, sa qua đa ra ni, a qua ta ni, sâm qua ta ni, sâm ga ba ri cờ si te, sâm ga nia ga ta ni, đa ma ba ri cờ si te, sa qua – sách toa – ru ta cau sa ly a nu ga te, sim ha vi cờ ri đi te, [a nu qua te, va tan ni, va ta li, sờ qua ha] ||

“Thưa Thế Tôn! Nếu có Bồ-tát nào nghe được thần chú này, thì phải biết là do sức thần thông của Phổ Hiền Bồ-tát.

Nếu Kinh Pháp Hoa lưu hành ở châu Thắng Kim và có ai thọ trì, thì họ nên nghĩ như vầy:

‘Đây đều là do sức uy thần của Phổ Hiền Bồ-tát.’

Nếu có người thọ trì đọc tụng, chánh niệm tư duy, giảng giải nghĩa thú, và như thuyết tu hành, thì phải biết người ấy đang tu hạnh Phổ Hiền. Họ đã gieo trồng sâu căn lành nơi vô lượng vô biên chư Phật và đã được chư Như Lai lấy tay xoa đỉnh đầu.

Nếu có ai chỉ biên chép Kinh này thì khi người ấy mạng chung, họ sẽ sanh lên trời Tam Thập Tam. Lúc đó, 84.000 thiên nữ sẽ trỗi các loại âm nhạc để chào đón. Họ sẽ liền đội mũ bảy báu và cùng với các thể nữ thọ hưởng vui sướng. Huống nữa là thọ trì đọc tụng, chánh niệm tư duy, giảng giải nghĩa thú, và như thuyết tu hành.

Nếu có ai thọ trì đọc tụng và giảng giải nghĩa thú của Kinh này, thì khi người ấy mạng chung, 1.000 Đức Phật sẽ dang tay tiếp dẫn, khiến họ chẳng bị kinh hoàng và chẳng đọa đường ác. Họ sẽ liền vãng sanh đến chỗ của Từ Thị Bồ-tát ở trên trời Hỷ Túc. Từ Thị Bồ-tát có 32 tướng, cùng với chư đại Bồ-tát vây quanh, và có một tỷ ức thiên nữ quyến thuộc. Khi được sanh ở đó, họ sẽ có những công đức và sự lợi ích như thế.

Vì thế, người trí phải nên hết lòng tự mình biên chép Kinh này, hoặc bảo người khác biên chép, thọ trì đọc tụng, chánh niệm tư duy, và như thuyết tu hành.

Thưa Thế Tôn! Con nay sẽ dùng sức thần thông để bảo hộ Kinh này. Sau khi Như Lai diệt độ, con sẽ rộng lưu truyền ở châu Thắng Kim và chẳng để đoạn tuyệt.”

Lúc bấy giờ Đức Phật Năng Tịch ngợi khen rằng:

“Lành thay, lành thay, Phổ Hiền! Ông có thể hộ trì Kinh này và khiến chúng sanh được nhiều sự lợi ích an vui. Ông đã thành tựu công đức không thể nghĩ bàn và có lòng đại từ bi thâm sâu. Từ thuở xa xưa, ông đã phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và có thể phát nguyện để dùng thần thông bảo hộ Kinh này. Ta sẽ dùng sức thần thông để thủ hộ cho những ai có thể thọ trì danh hiệu của Phổ Hiền Bồ-tát.

Này Phổ Hiền! Nếu có ai thọ trì đọc tụng, chánh niệm tư duy, tu tập, và biên chép Kinh Pháp Hoa này, thì phải biết người ấy đã thấy Đức Phật Năng Tịch, như chính họ đã từ kim khẩu của Phật mà nghe được Kinh điển này.

– Phải biết người ấy đã cúng dường Đức Phật Năng Tịch.
– Phải biết người ấy đã được Phật ngợi khen: “Lành thay!”
– Phải biết người ấy đã được Đức Phật Năng Tịch lấy tay xoa đỉnh đầu.
– Phải biết người ấy đã được Pháp y của Đức Phật Năng Tịch phủ lên thân.

Những người như thế sẽ không bao giờ còn tham trước dục lạc của thế gian và chẳng còn ưa thích sách vở của ngoại đạo. Người đó cũng không còn vui thích thân cận với họ cùng những kẻ xấu ác, kẻ làm nghề mổ giết, kẻ nuôi heo dê gà chó, kẻ săn bắn, hay kẻ buôn bán nữ sắc.

Tâm ý của người này sẽ ngay thẳng, có chánh niệm, và có lực của phước đức. Họ sẽ không bị ba độc não hại và cũng chẳng bị ganh ghét, ngã mạn, tà mạn, hay tăng thượng mạn não loạn. Người đó thiểu dục tri túc và có thể tu hạnh Phổ Hiền.

Này Phổ Hiền! Sau khi Như Lai diệt độ và trong 500 năm sau cùng, nếu ông thấy có ai thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa thì phải nên nghĩ như vầy:

‘Người này không bao lâu sẽ đến ngồi ở Đạo Tràng, phá tan các chúng ma, và đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi chuyển Pháp luân, đánh trống Pháp, thổi loa Pháp, và rưới mưa Pháp. Ngài sẽ ngồi trên Pháp tòa sư tử ở giữa đại chúng và hàng trời người.’

Này Phổ Hiền! Vào đời sau, nếu ai thọ trì đọc tụng Kinh điển này thì người ấy sẽ chẳng còn tham trước y phục, ẩm thực, giường nệm hay những đồ vật trong cuộc sống. Sở nguyện của họ chẳng hư dối. Lại ở hiện đời sẽ được phước báo.

Nếu có ai khinh rẻ và hủy báng họ mà nói rằng:

‘Thiệt là kẻ điên rồ! Làm ba cái việc vô ích và cuối cùng chẳng được gì!’

Tội báo như thế là đời đời sẽ không có mắt.

Nếu có ai cúng dường và ngợi khen họ, thì ở đời này sẽ được quả báo lành.

Nếu ai thấy có người thọ trì Kinh này mà lại nói ra lỗi sai hay điều ác của họ, dù thật hay chẳng thật, thì hiện đời kẻ đó sẽ mắc bệnh hủi.

Nếu ai khinh chê và chế giễu họ, thì đời đời răng sẽ thưa hoặc bị rụng, môi trề, mũi trẹt, tay chân co quắp, mắt hình tam giác, thân thể hôi hám với máu mủ mụn nhọt, bụng chứa toàn nước, hơi thở đứt quãng, hoặc các trọng bệnh xấu ác.

Vì thế, Phổ Hiền! Nếu ai thấy có người thọ trì Kinh điển này thì phải nên từ xa chào đón và cung kính họ như Phật.”

Khi nói Phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Khuyết Phát này, có vô lượng vô biên Bồ-tát nhiều như cát sông Hằng đắc Bách Thiên Vạn Ức Toàn Tổng Trì. Có chư Bồ-tát bằng số vi trần của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới được đầy đủ Đạo Phổ Hiền.

Khi Phật thuyết Kinh này xong, ngài Phổ Hiền và chư Bồ-tát, ngài Thu Lộ Tử và hàng Thanh Văn, cùng trời, rồng, người và phi nhân, hết thảy chúng hội đều hoan hỷ vô lượng. Họ thọ trì lời Phật dạy, đảnh lễ và cáo lui.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ♦ Hết quyển 7

Tải Kinh Pháp Hoa, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa PDF

Đọc Niệm
Nam Mô A Di Đà Phật
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Trước Khi Tải

Link Tải Kinh Diệu Pháp Liên Hoa:

2 lượt xem | 0 Bình luận
Nam Mô A Di Đà Phật - Pháp Giới là trang chia sẻ phật pháp, kinh phật, pháp âm, câu chuyện phật giáo. Mong góp chút sức lực bé nhỏ để giúp các bạn tiếp cận được đại trí thức của đức Phật. Đừng hỏi tôi là ai. Hãy chấp trì danh hiệu Phật, gieo duyên với Phật Pháp để giúp bạn an lạc.



Pháp Âm Thần Chú Tu Học Blog