Án Ma Ni Bát Di Hồng là Vi Diệu Thần Chú
Pháp Giới 6 tháng trước

Án Ma Ni Bát Di Hồng là Vi Diệu Thần Chú

Án Ma Ni Bát Di Hồng còn gọi là Lục Tự Đại Minh Thần Chú. Trong “Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương”, đức Phật đặc biệt tán thán sức siêu việt của Thần chú này, Ngài dạy: “Sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni đó là bổn tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát. Nếu biết vi diệu bổn tâm ấy tức biết giải thoát”.

Lục Tự Đại Minh Thần Chú ngày nay được truyền bá rộng rãi trong nhân gian. Tuy nhiên đa phần người ta chỉ xem đó là câu chú bình thường chuyên trừ tà ma, giải nạn chướng, trị liệu bệnh tật…Cực hiếm người biết đến sự vi diệu Chú nên sơ sài trì tụng, thật đáng tiếc lắm thay!

  • Chú Lăng Nghiêm là Vua của muôn chú.
  • Chú Đại Bi Tâm Đà Ra Ni.
  • Kinh Lăng Nghiêm.
  • Kinh Pháp Diệt Tận.
  • Cảnh tỉnh về tu tập 42 Thủ nhãn Ấn pháp.
  • Cách niệm Phật tại nhà.
  • Cách tụng kinh tại nhà.
Án Ma Ni Bát Di Hồng là Vi Diệu Thần Chú
Án Ma Ni Bát Di Hồng là vi diệu thần chú

Xin trích một đoạn Kinh ngắn để bạn hình dung sự khó gặp và vi diệu của Chú:

*

 “Phật dạy: Thiện nam tử! Sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này rất khó gặp được, cho đến Như Lai mà cũng không biết chỗ sở đắc ấy thì nhơn vị Bồ Tát làm thế nào mà hay biết được!

Ngài Trừ Cái Chướng bạch đức Thế Tôn rằng: Đà Ra Ni như vậy, nay Phật, Như Lai, Ứng cúng, Chánh Đẳng Giác vì sao mà không biết ư?

Phật dạy: Thiện nam tử! Sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni đó là bổn tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát. Nếu biết vi diệu bổn tâm ấy tức biết giải thoát.

Bấy giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch đức Thế Tôn rằng: Thưa Thế Tôn! Trong các hữu tình có ai biết được sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni đó chăng?

Phật dạy: Không có ai biết. Thiện nam tử! Sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này vô lượng tương ưng Như Lai mà còn khó biết huống gì là Bồ Tát. Làm thế nào mà biết được chỗ bổn tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát? Ta đi trải qua các quốc độ khác cũng không biết sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này.

Án Ma Ni Bát Di Hồng – Lục Tự Đại Minh Thần Chú

Hòa Thượng Tuyên Hóa dạy: Sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng gọi là “Chú Lục Tự Đại Minh”. Mỗi chữ đều có thể phóng ra một luồng ánh sáng.

Một khi quý vị niệm Chú Lục Tự Đại Minh, thì sẽ có vô lượng chư Phật, vô lượng Bồ tát và vô số hộ pháp Kim Cang thường xuyên đến ủng hộ quý vị. Cho nên, Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nói xong Chú Lục Tự Đại Minh nầy, liền có bảy ức đức Phật đến vây quanh, ủng hộ.

Năng lực và diệu dụng của Chú Lục Tự Đại Minh không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng đạo giao cũng không thể nghĩ bàn. Nếu giảng chi tiết hơn thì ý nghĩa nhiều đến vô lượng vô biên, không thể nào nói cho hết được; Thế nên tối nay tôi chỉ giảng sơ lược cho đại chúng nghe mà thôi.

*

Tôi có thể cho quý vị biết một chút về thứ thần lực bí mật không thể nói ra được. Tại sao tôi bảo là “thần lực bí mật không thể nói ra được”? Bởi vì những điều tôi nói thì chưa được một phần vạn của sự việc. Thế là thế nào? Nếu quý vị có thể thường xuyên trì tụng Chú Lục Tự Đại Minh thì sẽ chiêu cảm được sáu đạo ánh sáng có công năng biến đổi sự tối tăm u ám của sáu nẻo luân hồi trở nên sáng lạn.

Điều cần thiết là quý vị phải chuyên tâm trì tụng mới có thể đạt được thứ Tam-muội này. Bấy giờ, ánh sáng không chỉ chiếu khắp trong sáu nẻo luân hồi, mà cả mười Pháp giới cũng biến thành “quang minh tạng”. Tôi hy vọng mọi người dù bận rộn đến đâu cũng nên nhín  chút thì giờ để trì tụng Chú Lục Tự Đại Minh nầy

Án Ma Ni Bát Di Hồng lược giảng

Đầu tiên là chữ “Án”. Khi quý vị tụng chữ “Án” nầy, tất cả quỷ thần đều phải chắp tay lại. Vì sao phải chắp tay lại? Đó là giữ gìn pháp tắc, tuân theo khuôn phép. Quý vị tụng một chữ nầy, thì tất cả quỷ thần đều không dám gây rối, không dám không tuân theo mệnh lệnh. Chữ nầy có nghĩa là “tiếng dẫn” (dẫn thanh), là tiếng mở đầu dẫn tới những lời chú tiếp theo, cho nên khi đọc chú, đầu tiên đều đọc chữ nầy.

“Ma Ni” chính là “mâu ni”. “Mâu ni” là tiếng Phạn, dịch là “trí tịch,” tức là dùng trí huệ để làm sáng tỏ tất cả các đạo lý, và do đó đạt đến trạng thái tịch diệt vô sanh. Lại có thể dịch là “ly cấu,” nghĩa là rời xa tất cả bụi bặm dơ bẩn, ví như viên ngọc “như ý,” rất toàn hảo, không có chút tỳ vết. Viên bảo châu “như ý” nầy có công năng sanh trưởng tất cả công đức, có thể đáp ứng mọi sở nguyện của con người.

*

“Bát Di” vốn nên đọc là “Bát Đặc Di,” dịch là “quang minh viên giác”; cũng dịch là “liên hoa khai,” tức là diệu tâm của Bồ tát Quán Thế Âm, diệu tâm ấy viên mãn đầy đủ, vô ngại. Đó là chữ “bát di.”

Chữ “Hồng” có nghĩa là “xuất sanh” —tất cả mọi thứ đều có thể được sanh ra từ chữ “Hồng” nầy. Lại có nghĩa là “ủng hộ” —niệm chữ nầy thì liền cảm ứng chư hộ pháp thiện thần đến trợ giúp, che chở cho quý vị. Lại còn có nghĩa là “tiêu tai” —quý vị có tai nạn gì, tụng chữ nầy liền được tai qua nạn khỏi. Lại cũng có nghĩa là “thành tựu” —bất luận quý vị cầu nguyện điều gì, đều có thể được thành tựu như ý.

Án Ma Ni Bát Di Hồng: Sự vi diệu của Thần chú

Bạn hãy ngồi ngay ngắn, lắng tâm nghe đức Phật giảng về sự vi diệu của thần chú Án Ma Ni Bát Di Hồng: “Nếu có người thường thọ trì sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni thì khi trì tụng có chín mươi chín Căng già sa hà sa số chư Như Lai nhóm hội; Có vô số Bồ Tát nhiều như vi trần nhóm hội cùng các Thánh chúng Thiên tử ở ba mươi hai cõi trời cũng đều nhóm hội. Lại có bốn Đại Thiên Vương ở bốn phương làm hộ vệ: Có Ta Nga La Long vương, Vô Nhiệt Não Long vương, Đắc Xoa Ca Long vương, Phạ Tô Chỉ Long vương.

Như vậy có vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố na Long vương đến hộ vệ người thọ trì ấy. Lại ở khắp trong cõi đất hết thảy các Dược Xoa Hư Không thần cũng đến hộ vệ. Thiện nam tử! Trong lỗ chân lông Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát có trăm ức Như Lai an trụ và khen ngợi người trì tụng ấy: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi hãy được như ý ma ni bảo, bảy đời dòng họ của người đều sẽ đều được giải thoát.

*

Thiện nam tử! Người trì minh kia (kẻ trì chú) ở trong bụng có các trùng, các trùng ấy sẽ được Bất thối chuyển địa vị Bồ Tát. Nếu lại có người lấy sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này mà đeo giữ nơi thân, trên đảnh. Thiện nam tử! Nếu thấy được người đeo giữ ấy, thời cũng như thấy thân Kim Cang, như thấy tháp Xá Lợi, như thấy đức Như Lai, như thấy một trăm ức trí tuệ. Nếu có kẻ trai lành gái tín nào hay y pháp niệm sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này, thì người đó sẽ được vô tận biện tài được trí tụ tụ thanh tịnh, được đại từ bi.

Như vậy người đó ngày ngày được viên mãn công đức sáu chữ Ba la mật đa. Người đó được trời Chuyển luân Thánh vương quán đảnh. Người ấy lời nói hơi trong miệng phát ra, chạm đến thân người nào, người chạm được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chóng chứng đắc Vô thượng bồ đề Chánh đẳng chánh giác.

Nếu người đeo giữ và thọ trì lấy tay chạm đến người khác, người được rờ chạm ấy mau được Bồ Tát vị. Nếu kẻ nam người nữ, con trai con gái, cho đến dị loại hữu tình khác, thấy được người đeo và thọ trì ấy, tất cả đều mau được Bồ Tát vị, người như thế đó, vĩnh viễn không còn chịu khổ sanh, già, bịnh, chết, khổ thương xa lìa, mà được sự niệm tụng tương ưng không thể nghĩ bàn. Nay như thật mà nói lên sáu chữ đại minh Đà Ra Ni vậy.

*

Lúc bấy giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật rằng:

Thưa Thế Tôn! Con nay làm thế nào được sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni? Nếu được thì vô lượng thiền định tương ưng không thể nghĩ bàn. Tức đồng được Vô thượng Bồ đề Chánh đẳng chánh giác; Vào môn giải thoát, thấy được địa vị Niết Bàn; tham sân vĩnh diệt, pháp tạng viên mãn; Phá hoại luân hồi của ngũ thú và tịnh các địa ngục; Đoạn trừ phiền não, cứu độ các loài bàng sanh; Pháp vị viên mãn của tất cả trí, dùng trí ấy diễn nói vô tận.

Thưa Thế Tôn! Con cần sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni ấy. Con sẽ làm thế này, lấy của thất bảo đầy trong bốn đại châu làm việc bố thí để chép viết. Bạch Thế Tôn! Nếu thiếu giấy bút, con sẽ chích thân lấy máu làm mực, lột da làm giấy, chẻ xương làm bút. Thật như vậy! Thưa Thế Tôn! Con không có hối tiếc, mà tôn trọng như bậc đại cha mẹ.

Lúc bấy giờ Phật dạy Ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát: Thiện nam tử! Ta nhớ thời quá khứ, vì sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này mà đã trải qua khắp vô số thế giới như vi trần. Ta cúng dường vô số trăm ngàn vạn Câu chi an khố đa của đức Như Lai, ta ở chỗ của đức Như Lai ấy, mà cũng không được nghe.

*

Thời kỳ đó có Đức Phật gọi là Bảo Thượng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ta ở trước Đức Phật đó mà rơi lệ buồn khóc. Khi bấy giờ đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác kia dạy Ta rằng:

Thiện nam tử! Ông chớ nên buồn khóc! Thiện nam tử! Ông hãy qua bên kia, sẽ thấy đức Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tại nơi ấy Phật kia biết sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni.

Thiện nam tử! Ta từ từ rời chỗ đức Bảo Thượng Như Lai, qua đến cõi Phật sát của Liên Hoa Như Lai, đến rồi đảnh lễ chân Phật mà chấp tay đứng trước: Cúi mong đức Thế Tôn! Cho con sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni. Chơn ngôn Vương kia là bổn mẫu của tất cả, nhớ niệm tên ấy thì tội cấu tiêu trừ, mau chứng Bồ đề. Vì cớ ấy mà con rất mong muốn. Con đã chịu khổ nhọc trải qua vô số thế giới mà cũng không được nên nay con mới trở lại đây.

Công đức của Thần chú: Án Ma Ni Bát Di Hồng

Khi ấy Ngài Liên Hoa Thượng Như Lai liền nói công đức sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni rằng:

Thiện nam tử! Vi trần đã có ta có thể đếm được số lượng. Thiện nam tử! Lại như số cát trong biển lớn, ta có thể đếm từng hạt một. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Đại Minh một biến thì công đức ấy ta không thể đếm được.

Thiện nam tử! Lại như trời người tạo lập kho lẫm, chu vi một ngàn du thiện na, cao một trăm thiện na; Chứa hạt mè đầy trong kho mà không kẽ hỡ dẫu bằng một mũi kim. Người giữ kho không già không chết, trải qua năm trăm kiếp, ném bỏ ra ngoài từng hạt mè một. Như vậy trong kho ném hết không sót, ta có thể đếm số lượng kia. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Đại Minh một biến thì được công đức, ta không thể đếm được.

Thiện nam tử! Lại như bốn đại châu gieo trồng hết thảy các loại lúa nếp. Long vương mưa nắng thuận thời, lúa nếp đã trồng hết thảy chín vàng, thu cắt đều xong. Lấy Nam Thiệm bộ châu mà làm sân chứa, dùng xe vận tải chở hết các lúa về sân, đập để xong xuôi, dồn thành đống lớn. Thiện nam tử! Ta có thể đếm số lúa ấy từng hạt một như vậy. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Đại Minh này một biến, công đức ấy ta không thể đếm được.

*

Thiện nam tử! Cõi Nam Thiệm Bộ Châu có những con sông lớn ngày đêm chảy mãi gọi là: sông Di Đa, sông Kinh Nga, sông Nại Ra, sông Tán Nại Ra; Sông Bà Nghiệt, sông Ái Ra Phạ Để, sông Tô Ma Na Đà; Sông Hế Ma, sông Ca Lã Thú na Lị. Mỗi một con sông lớn này có năm ngàn con sông nhỏ làm chi nhánh, ngày đêm chảy vào biển lớn.

Thiện nam tử! Như vậy mỗi con sông lớn kia ta có thể đếm số mỗi một giọt nước kia. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Đại Minh một biến được công đức ta không thể đếm số lượng. Thiện nam tử! Lại như loài hữu tình bốn chân trong bốn đại châu như: Sư tử, voi, ngựa, trâu đồng, trâu nước, cọp, beo, nai, vượn, chồn, heo, dê, thỏ; Những loài bốn chân như vậy ta có thể đếm số lượng từng sợi lông một. Thiện nam tử! Nếu niệm sáu chữ Đại Minh này một biến thì được công đức ấy ta không thể đếm số lượng được.

Thiện nam tử! Lại như núi Kim Cang Câu Sơn Vương kia, vuông mỗi bên tám vạn bốn ngàn du thiện na. Nơi núi ấy có người không già không chết, trải qua một kiếp nhiễu quanh núi chỉ được một vòng. Núi Vương như vậy ta lấy y Kiều Thi Ca có thể trải hết không sót. Nếu có người niệm sáu chữ Đại Minh này được công đức ta không thể nói hết số lượng.

*

Thiện nam tử! Lại như biển lớn sâu đến tám vạn bốn ngàn du thiện na, lỗ miệng rộng lớn vô lượng, ta có thể lấy một sợi lông nhét vừa hết không dư. Thiện nam tử! Nếu có người niệm một biến sáu chữ Đại Minh này được công đức mà ta không thể nói hết số lượng. Thiện nam tử! Lại như rừng cây Thi Lợi Sa, ta có thể đếm hết mỗi một lá.

Thiện nam tử! Nếu niệm một biến sáu chữ Đại Minh được công đức không thể nghĩ lường. Thiện nam tử! Lại như bốn đại bộ châu những kẻ nam người nữ, con trai con gái ở đầy khắp trong đó, những người này đều chứng Thất Địa Bồ Tát, chúng Bồ Tát ấy đã có công đức cùng với công đức người niệm sáu chữ Đại Minh này không khác.

Thiện nam tử! Trừ một năm mười hai tháng ra còn gặp năm nhuần mười hai tháng, lấy tháng dư nhuần ấy làm số năm đủ mãn một kiếp trên cõi trời, ở đó ngày đêm thường mưa lớn. Thiện nam tử! Ta có thể đếm số mỗi một hạt mưa kia được. Nếu có người niệm sáu chữ Đại Minh này một biến, công đức số lượng rất nhiều. Nơi ý ông nghĩ sao?

*

Thiện nam tử! Lại như vô số một trăm ức đức Như Lai ở tại một chỗ trải qua một kiếp của cõi trời; Lấy các thức ăn uống, y phục, ngọa cụ và thuốc thang đồ cần dùng. Các thứ ấy đem cúng dường cho các đức Như Lai mà cũng không thể đếm hết số lượng công đức của sáu chữ Đại Minh. Chẳng những ta ngày nay ở thế giới này mà ta từ trong định ra cũng không thể nghĩ bàn.

Thiện nam tử! Pháp gia hạnh vi diệu tương ưng của tất cả quán trí này, người đời sau sẽ được tâm pháp vi diệu ấy. Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát, khéo an trụ sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni như thế.

Thiện nam tử! Ta lấy phước gia hạnh trải qua vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố đa thế giới, đến chỗ đức Như Lai Vô Lượng Thọ chấp tay ở trước, vì pháp ấy mà rơi lệ buồn khóc.

*

Bấy giờ đức Vô Lượng Thọ Như Lai thấy ta tại đó và vì đời sau mà bảo ta rằng: Thiện nam tử! Ông cần sáu chữ Đại Minh Vương quán hạnh Du Già đấy ư?

Bấy giờ ta bạch: Con cần pháp ấy Thế Tôn! Con cần pháp Thiện Thệ ấy, như người quá khát nước mà cần nước. Bạch Thế Tôn! Con vì sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni ấy mà du hành vô số thế giới. Vâng thờ cúng dường vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố đa Như Lai mà chưa từng được sáu chữ Đại Minh vương Đà Ra Ni.

Xin mong đức Thế Tôn cứu cái ngu độn cho con; Như không đầy đủ khiến con được đầy đủ; Mê mất đường về, dắt dẫn cho con thấy đường trở về; Nắng trời gay gắt, làm bóng che mát; Nơi ngã tư đường trồng cây Ta La. Tâm con khao khát mong cầu pháp ấy, cúi xin chỉ dạy, kiến được thiện trụ nơi đạo cứu cánh, mặc được áp giáp đội mũ Kim Cang.

Bấy giờ đức Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác dùng diệu âm Ca Lăng tần già bảo Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát: Thiện nam tử! Ông thấy đức Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, vì sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này mà Ngài phải trải qua vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố đa thế giới.

Cách niệm Chú Án Ma Ni Bát Di Hồng

Thiện nam tử! Ông nên cho sáu chữ Đại Minh. Đức Như Lai này vì vậy cho nên đến đây. Quán Tự Tại Bồ Tát bạch đức Thế Tôn: Không thấy được Mạn Đà La (Đàn Pháp) thì không thể đắc được pháp này. Làm thế nào biết là Liên Hoa ấn? Làm thế nào biết là Trì Ma Ni ấn? Làm thế nào biết được Nhất Thiết Vương ấn? Làm thế nào biết là Thể thanh tịnh Mạn Noa La?

Nay tướng Mạn Đà La đây: Chu vi bốn phía vuông, mỗi bề vuông năm thước. Trung tâm Đàn Pháp (Mạn Đà La) đặt tượng Phật Vô Lượng Thọ (Phật A Di Đà). Nên dùng năm thứ bột quý phân rải trong đàn như: Nhơn nại ra nhĩ la bảo mạc, Bát nạp ma ra nga bảo mạc, Ma ra kiết đa bảo mạc, Pha để ca bảo mạc, Tô phạ ra noa lỗ bá bảo mạc.

Nơi bên hữu đức Vô Lượng Thọ Như Lai để trì Đại Ma Ni Bảo Bồ Tát; Nơi bên tả Phật để sáu chữ Đại Minh. Bốn tay thì thân sắc trắng đẹp như ánh trăng thu, trang nghiêm các thứ báu. Tay trái cầm hoa sen, nơi trên hoa sen để Ma Ni Bảo. Tay mặt cầm xâu chuỗi, hai tay dưới kiết Nhứt Thiết Vương ấn. Nơi dưới chân sáu chữ Đại Minh để trời người và các thứ trang nghiêm; Tay bên hữu cầm Lư hương, tay bên tả bưng bát đầy các thứ báu.

*

Nơi bốn góc Mạn Đà La bày bốn vị Đại Thiên Vương nắm cầm các thứ khí trượng. Bên ngoài bốn góc Mạn Đà La để bốn bình đầy các thứ Ma Ni báu. Nếu người thiện nam và thiện nữ muốn vào Đàn Pháp (Mạn Đà La), không thể để cho những quyến thuộc của mình vào trong Đàn Pháp. Chỉ nên viết tên của họ, kẻ trước vào Đàn Pháp ấy; Hãy ném tên họ của quyến thuộc mình vào nơi trong Mạn Noa La, các quyến thuộc ấy đều được Bồ Tát vị. Người ở trong đó xa lìa các khổ não, mau chứng đắc Vô thượng Bồ đề Chánh đẳng chánh giác.

Pháp Mạn Đà La này vị A Xà Lê không được vọng truyền. Nếu có phương tiện thiện xảo, thâm tín Đại Thừa, gia công hành trì, chí cầu giải thoát, người như vậy thì nên truyền, không nên truyền ngoại đạo dị kiến (các đạo khác). Bấy giờ Ngài Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác bảo Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát rằng: Thiện nam tử! Nếu có năm món sắc bảo mạc như vậy mới được kiến lập Mạn Đà La. Nếu thiện nam tử và thiện nữ nghèo cùng thiếu thốn không thể sắm đủ các thứ quý báu ấy thì làm thế nào?

*

Ngài Quán Tự Tại bạch rằng: Thưa Thế Tôn! Nên phương tiện dùng các thứ đẹp đẽ mà làm Đàn Pháp, lấy các thứ hương hoa để cúng dường. Nếu người thiện nam ấy cũng không sắm sửa được gì vì: Hoặc ở nhờ nơi quán chợ miễu đình, hoặc có lúc giữa đường thì bây giờ vị A Xà Lê vận ý tưởng thành Mạn Đà La kết A Xà Lê ấn tướng.

Khi bấy giờ đức Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác bảo Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát rằng: Thiện nam tử! Hãy nói sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này cho ta. Ta vì vô số trăm ngàn Câu chi na khố đa hữu tình, khiến họ được xa lìa luân hồi khổ não, mau chứng Vô thượng Bồ đề Chánh đẳng chánh giác.

Bấy giờ Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát nói sáu chữ Đại Minh cho Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác rằng:

“Án Ma Ni Bát Di Hồng”

*

Khi đang nói sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này, bốn đại bộ châu và các cung trời thảy đều chấn động rung lay như tàu lá chuối. Nước bốn biển lớn sóng nổi cuồn cuộn. Tất cả quỷ Tỳ Na Dạ Ca và Dược Xoa, La Sát, Củng Bàn Noa, Ma Hạ Ca … và các quyến thuộc của các ma làm chướng ngại ấy thảy đều sợ hãi chạy trốn.

Lúc bấy giờ Ngài Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác duỗi tay như mũi tượng vương trao cho Quán Tự Tại đại Bồ Tát chuỗi chơn châu anh lạc để dùng cúng dường. Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát đã thọ nhận rồi đem dâng lên đức Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Phật kia thọ nhận rồi trở lại đem dâng lên đức Liên Hoa Thượng Như Lai. Khi ấy Đức Phật Liên Hoa Thượng Như Lai đã thọ được sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni, rồi Ngài đã trở về trong Liên Hoa Thượng thế giới. Thiện nam tử! Khi xưa ta qua ở chỗ Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác kia đã được nghe Đà Ra Ni như thế.

Án Ma Ni Bát Di Hồng: Công đức biên chép, tụng đọc

Bấy giờ Ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật:

“Thưa Thế Tôn! Khiến con làm thế nào được sáu chữ Đại Minh ấy? Bạch Thế Tôn! Cam lồ đức vị tương ưng đầy đủ như thế. Bạch Thế Tôn! Con nếu nghe được Đà Ra Ni ấy thì lòng không biếng trễ; Tâm niệm suy nghĩ mà thường thọ trì, khiến các hữu tình nghe được sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni được công đức rất lớn, mong Ngài vì đó mà nói lên.”

Phật dạy: “Thiện nam tử! Nếu có người biên chép sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này, thời đồng với chép tám vạn bốn ngàn Pháp Tạng. Nếu có người lấy vàng báu cõi trời, tạo hình tượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, số như vi trần. Làm như vậy rồi nơi một ngày khánh lễ tán dương cúng dường; Chỗ thu hoạch quả báo không bằng đã được quả báo công đức biên chép một chữ trong sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni ấy, đã khéo an trụ nơi đạo giải thoát không thể nghĩ bàn.

*

Nếu thiện nam tử và thiện nữ, y pháp niệm sáu chữ Đại Minh Đà Ra Ni này thì người đó sẽ đắc tam ma địa (Được đại chánh định) gọi là: Trì ma ni bảo tam ma địa, Quảng bát tam ma địa; Thanh tịnh địa ngục bàng sanh tam ma địa, Kim Cang giáp trụ tam ma địa; Diệu túc bình mãn tam ma địa, Nhập chư phương tiện tam ma địa; Nhập chư pháp tam ma địa, Quán trang nghiêm tam ma địa;

Pháp xa thinh tam ma địa, Viễn ly tham sân si tam ma địa; Vô biên tế tam ma địa, Lục ba la Mật môn tam ma địa; Trì đại diệu cao tam ma địa, Cứu chư bố úy tam ma địa; Hiện chư Phật sát tam ma địa, Quán sát chư Phật tam ma địa… Được một trăm lẻ tám món tam ma địa như vậy.

Niệm chú Án Ma Ni Bát Di Hồng cảm ứng chuyện

Đây là câu chuyện niệm chú Án Ma Ni Bát Di Hồng mà được cảm ứng. Chuyện được một Phật tử kể lại trong sách báo ứng hiện đời. Ta hãy cùng đọc để thấy sự vi diệu vô biên của Chú.

Năm 2004 tôi 32 tuổi. Trước khi tự thuật chuyện mình, dưới tòa mười phương chư Phật, Bồ-tát… cùng tất cả chúng sinh, tôi xin thành tâm sám hối.

Tôi hiện ngụ tại thành phố Mai Châu, từng cắp sách tại Trung Học Liên Hợp. Hồi đó tôi không chăm học, chuyên kết bè lập đảng, đánh lộn gây rối không ngừng. Thầy giáo và người thân khuyên mấy tôi cũng không sửa đổi. Cuối cùng tôi phải bỏ học, đi làm thuê. Tôi làm đủ công việc trong xã hội, nhưng công tác không đều, bữa đực bữa cái. Tôi không chừa bỏ thói hư tật xấu, vẫn thường cùng đám bạn bè đi trộm gà bắt chó, gây chuyện khắp nơi.

Ngày xưa đối với tiền tài, vật chất tôi tham mê lắm, nên thường dối gian, tạo nghiệp trộm cắp; Tính tàn nhẫn ưa giết hại loài vật. Lại thêm nết sân giận ác khẩu, chửi tục không ngừng. Tôi huân toàn thói quen cực xấu, đã vậy còn kết bè lập đảng với bọn bất lương… Vì vậy mà tôi thường xuyên bị bắt vào đồn công an.

*

Kể đến đây, tôi thầm sám hối với tất cả chúng sinh từng bị tôi cố ý hoặc vô tình làm thương hại, nguyện chẳng còn tái phạm. Những nhân xấu ác chiêu vời quả khổ tôi xin nhận lấy. Nguyện mười phương Tam bảo, Bồ-tát Địa Tạng gia trì cho tất cả được giải thoát, sớm đắc vô thượng Bồ đề.

Giờ đây hồi tưởng lại những việc ác tôi đã làm mà tạo thành họa ương. Từ công việc cho đến sức khỏe, gì cũng không ổn, hay gặp rủi ro, tất cả đều là báo ứng! Vì “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”. Tôii tự gây quả khổ thì bản thân phải gánh lấy, không ai chịu thay. Sau đây xin kể về nhân duyên học Phật của tôi:

Mùa thu năm 2000, tôi đã chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng khiến trọn đời nhớ mãi. Nay xin thuật lại để mọi người cùng cảnh giác.

Lúc đó tôi chưa kết hôn. Một đêm nọ khi đang thiu thiu ngủ. Tôi thấy mình cùng hai người bạn đi tới một vùng âm u đáng sợ. Bỗng gặp trận đại hồng thủy, chúng tôi chạy trốn không kịp, nên bị hồng thủy cuốn phăng… Cả ba giẫy giụa trong đó, “kêu trời gọi đất vang rần” nhưng thảy đều vô dụng.

*

Giống như bình thường mình xem phim vậy, trong chớp mắt mộng đổi sang cảnh khác. Tôi thấy mình nằm trên cái giường nhỏ hẹp, cảm giác cực kỳ khó chịu, liền giẫy để thoát ra. Nhưng càng giẫy càng cảm thấy đau đớn, đến nỗi phải kêu rên không ngừng. Đột nhiên tôi thấy chung quanh mình rộng không bến bờ. Xuất hiện vô số cái giường đơn, có vô số người ở trên giường, kêu rên, giẫy giụa, thống khổ khó kham, thật đáng sợ.

Chớp mắt, lại đổi sang cảnh khác: Tôi và vô số người bị vây trong một thành cao không thấy đỉnh. Có giám ngục hình dáng to đen như quái vật canh gác chung quanh thành; Tướng mạo họ rất đáng sợ, tay cầm đủ khí giới: Côn, thương, chĩa ba… đang áp giải tra khảo, đánh người.

Lúc đó tôi cảm thấy thống khổ đến không muốn sống. Thầm nghĩ: “Phải mau mau chạy thoát khỏi chốn này”. Thế là tôi dốc toàn lực trèo lên thành để vượt ngục. Cùng lúc ấy nhiều người bị áp giải hành hình chung quanh… cũng đồng vượt ngục giống tôi. Tình hình khi đó đại loạn, những quái vật kia liền hét to, ra oai: Chúng vung côn, chùy, chĩa ba rượt theo truy đuổi… Tôi chạy bán mạng… cuối cùng cũng leo lên được trên đỉnh thành. Nhìn ngoài thành thấy bên dưới là vực sâu hun hút như không có đáy. Chẳng mấy chốc quái vật đã đuổi tới sát bên, nhanh nhẹn chộp bắt tôi.

*

Tôi vội tung mình nhảy, cảm giác như hồn bay phách tán. Tôi rơi thẳng xuống vực sâu hun hút nọ, cuối cùng chân cũng chạm đất… Tôi lồm cồm ngóc dậy chạy trốn tiếp, ở phía sau quái vật vung binh khí lên thét to:

– Khâu Kiện Hào! Không được chạy! Mau bắt giữ Khâu Kiện Hào lại.

Bị chúng truy đuổi quá hăng, tôi mệt mỏi kiệt sức, tay chân run rẩy, kinh sợ hoảng loạn cực độ. Đột nhiên tôi nghe lưng mình nhói đau, té ra quái vật đã phóng chĩa ba ghim vào lưng tôi, còn thét to:

– Bắt nó lại! Bắt nó lại!

Tôi té nhào trên đất, bị quái vật trói gô lại và cắm vào lưng tôi tấm thẻ bài to có hàng chữ: Khâu Kiện Hào thọ tử! Rồi chúng trói tôi vào cột, tôi thấy chung quanh mình cũng có một dãy người cùng thọ hình giống vậy. Tiếp đến một quái vật giơ thùng sắt lên trước mặt tôi, hét to:

– Khâu Kiện Hào thọ hình!

Và y nghiêng thùng, xối vào chân tôi.

Chu choa, tôi thấy trong thùng chảy ra chất lỏng gì rất lạ, nước sôi lụp bụp vang thành tiếng; Khói trắng bốc cuồn cuộn, tôi nghe đau đớn khủng khiếp… Lúc đó đột nhiên tôi khởi nghĩ: “A, ta chẳng thèm đề ý tới nữa, ta sẽ niệm “Lục Tự Đại Minh Chú”.

*

Thế là tôi vội niệm chú không ngừng: “‘Án ma ni bát di hồng”… “Án ma ni bát di hồng”… Câu chú vừa niệm, lập tức tôi chẳng còn biết gì đến màn khủng bố trước mặt. Tôi càng niệm càng nhanh, càng lớn tiếng; Bởi vì phần thân dưới tôi đã tiêu mất… gần đến ngực rồi.

Lúc này đột nhiên trước mặt tôi vang lên âm thanh “‘Án ma ni bát di hồng” thật to. Tôi quay đầu nhìn thì thấy phía trước, có hơn 5 đứa bé mặt y phục xinh đẹp. Chúng nắm tay nhau đứng thành hàng, thân tỏa hào quang chiếu về phía tôi, cùng đọc “Lục Tự Đại Minh Chú”. Âm vang chú trầm hùng, nghe rất hay, rất thích.

– Án ma ni bát di hồng! Án ma ni bát di hồng! Án ma ni bát di hồng!…

Phần ngực tôi không còn nữa, rồi cổ cũng tiêu mất, chỉ còn một khối khí trắng sôi lụp bụp vang thành tiếng. Thấy sắp tiêu đến đầu, tôi liều mạng dốc tận lực niệm chú. Nhưng không còn giọng niệm nữa, mà là tiếng rên: -“Án ma ni bát di hồng”…

*

Đột nhiên một câu “ÁN MA NI BÁT DI HỒNG!” phi thường hùng hậu, vang dội, trang nghiêm… vọng đến tai tôi. Trước mắt tôi bỗng hiện ra một luồng hào quang sáng chói: Có một vị đầu trọc thân mặc y phục trắng, hai tay chắp lại đang ở phía trên đỉnh… đầu giường của tôi. Ngài hiện bán thân, hơi nghiêng về hướng tôi, dáng vẻ cực kỳ trang nghiêm, thanh âm hùng hậu vẫn vang to. Lúc đó tôi cảm thấy toàn thân khinh an dễ chịu khôn tả. Một sức sống sung mãn, đầy năng lượng phủ khắp toàn thân tôi.

Tôi thức dậy, nhận ra mình đang ngồi trên giường, liền đưa tay bật đèn. Đèn sáng. Lúc này tôi vô cùng chấn động, nhưng không hề có cảm giác sợ hãi sau cơn ác mộng; Chỉ có niềm cảm kích, xúc động tri ân… Vì mình đã được sống lại, hồi sinh từ cõi chết! Tôi xúc động đến toàn thân run rẩy. Vị bạch y đã biến mất tiêu rồi, hoàn toàn không thấy đâu nữa… Nhưng trực giác tôi cảm nhận rất rõ là nhờ vị bạch y đó. “Người đầu trọc” đó… đã cứu tôi! Chính ông ta có sức mạnh uy thần rất diệu kỳ, đã ban cho tôi sinh mạng mới.

Tôi ráng kềm chế bản thân và lấy lại bình tĩnh. Sau đó chỉnh trang y phục, hướng về chỗ hòa thượng áo trắng vừa xuất hiện ban nãy, quỳ xuống lễ ba lễ.

*

Kể đến đây ắt sẽ có người hỏi:

– Vì sao anh biết niệm chú? Anh bình thường có thờ Phật không? Chẳng phải anh toàn làm việc xấu ư? Vì sao anh có thể tin Phật và biết niệm chú ngay trong mộng chứ?

Chà, nói đến đây không thể không giải thích, quả tình tôi có nhân duyên cực kỳ sâu với “Lục Tự Đại Minh Chú”. Mười năm trước, tôi tình cờ nghe được đĩa nhạc xướng tụng chú này, lập tức sinh tâm ưa thích cực kỳ. Vì vậy mà suốt bao năm nay hữu ý vô ý gì cũng niệm, cũng ngâm nga chú này hết.

Dù tôi hoàn toàn mù tịt về Phật pháp. Song tôi cảm nhận chú này có hiệu quả rất tốt. Bằng chứng là lúc tôi ra ngoài làm việc, mấy lần bị bịnh nặng cấp tính khó hiểu (Chẳng hạn như tim bị đau thắt như có vô số mũi kim châm vào; Hoặc toàn thân co rút, phát run lập cập)… Nhờ nhất tâm niệm chú này mà tôi thoát khỏi cơn đau. Do vậy mà bình thường bất kể ngày đêm, tôi luôn niệm chú này, quanh năm không gián đoạn. (Những ai biết đạo chắc hiểu rõ uy lực thần diệu của chú này hơn tôi).

*

Quay lại chuyện hồi nãy, sau sự việc đó, tôi rất muốn tìm hiểu vị bạch y hiển linh cứu tôi đó là Bồ-tát nào? Bồ-tát Quan Thế Âm thì không phải rồi, vì tượng Ngài tôi đã từng thấy qua. Nếu là Phật? Cũng không giống!? Tôi suy nghĩ mãi vẫn không lý giải được, liền hỏi người nhà. Nhưng ai cũng chế nhạo, chê cười tôi. Họ nói do tôi bịnh nên thấy ác mộng và không thèm đếm xỉa gì đến lời tôi. Hễ tôi có bàn nhắc gi thêm nữa, thì họ nói tôi điên!

Lúc đó tôi rất khổ tâm vì không ai thèm tin mình. Đành âm thầm tìm tòi, tôi nghĩ: “Bồ-tát xuất hiện tại hướng tây”… mà phía tây là hướng chùa Phật Quang… Đúng lúc đó ở địa phương kêu gọi giúp đỡ chùa Phật Quang đang xây dựng. Tôi từng ghé qua chỗ này rồi, nên quyết định đến đó xem, hi vọng tìm được đáp án.

Thế là hôm ấy tôi cùng người bạn đi chùa Phật Quang, gặp lúc các thầy lên điện tụng kinh. Tôi nghĩ: “Mình phải lên tụng theo họ”… Lúc đó nhằm buổi chiều, các sư dâng hương xong thì bắt đầu tụng cuốn kinh rất dày, tên là: “Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện kinh” tôi cũng tụng theo.

*

Xưa nay tôi chưa tụng qua kinh này bao giờ, nên đọc rất vất vả, khó khăn. Nhưng tôi nghĩ mình phải kiên nhẫn, miệng tôi khô khốc khó thể tụng…. Tôi đành nhìn theo kinh tụng thầm… Và tôi hết hồn khi thấy cảnh tượng trong kinh tả giống hệt như cảnh mộng mà tôi từng thấy qua.

“Trong địa ngục có giường, biến đầy khắp nơi. Một người thọ tội, tự thấy thân mình nằm chật giường. Ngàn vạn người thọ tội, cũng thấy thân mình chật cả giường”.

Trời ơi! Tụng đến đây tôi hết sức kích động, toàn thân phát run không kìm được. Tôi ý thức rằng điều mình khổ công truy tìm sắp có kết quả. Đột nhiên tôi nhớ lại ngày hôm đó khí trời nóng nực, nhưng toàn thân tôi cứ xuất mồ hôi lạnh. Bởi vì thấy kinh văn miêu tả quá giống với cảnh mộng của mình!

Có thể là do quyển kinh quá dày nên các thầy tụng được nửa tiếng thì tuyên bố tạm nghỉ. Lòng tôi hoang mang lo sợ, không biết phải làm gì, bèn bỏ ra đứng xớ rớ trước cổng chùa. Thấy gần cổng có một hòa thượng đang trò chuyện với một số hương khách, tôi thu hết can đảm bước đến thưa hỏi:

– Bạch thầy, trước đây con có mơ thấy một ác mộng, cảnh tượng giống y như trong kinh đã tả về địa ngục vậy. Nhưng sau đó có một vị sư xuất hiện đến cứu con. Lúc đó con niệm “Lục Tự Đại Minh Chú”, hòa thượng ấy cũng niệm chú này. Vậy những chuyện đó có thật không ạ?

*

Vị sư nhìn tôi, bảo:

– Đây không phải là chuyện giỡn chơi! Anh chớ nên nói đùa như thế!

Tôi vội hỏi:

– Thưa thầy, vị sư cứu con là Bồ-tát nào vậy?

– Thời đến thì anh sẽ tự hiểu thôi!

Sư chỉ đáp như vậy. Lúc này bên trong hồi trống vang lên, tôi nghe mọi người nói: “Đến giờ tụng kinh rồi”.

Tôi cảm thấy rất mờ mịt, nhưng vị sư kia đã bỏ đi vào trong, không nghe tôi hỏi gì nữa. Do nghiệp chướng sâu nặng, hôm đó tôi không được đáp án nhiều. Nhờ tụng “Kinh Địa Tạng” mà biết cảnh địa ngục trong kinh tả giống y như cảnh mộng của tôi thôi. Tôi cũng không biết gì về “Kinh Địa Tạng”, cũng chẳng rõ Bồ-tát Địa Tạng là ai? Nhưng tôi đoán “có lẽ là Bồ-tát Địa Tạng cứu tôi”. Nhưng rốt ráo là sao thì tôi vẫn chưa minh bạch.

Được một thời gian, Hồng cư sĩ gọi điện thoại cho tôi, nói:

– Hào nè, tôi có một cuốn “Kinh Địa Tạng”, chú có muốn tới xem không?

Tôi vội đến chỗ anh. Anh đưa tôi một cuốn “Kinh Địa Tạng” in rất tinh xảo và nói:

– Bên trong có hình Bồ-tát Địa Tạng đẹp lắm!

*

Tôi mở sách ra xem, “A! Đúng là ông này nè, đúng là ổng rồi!”… ôi chao! Hòa thượng tôi mơ thấy… tướng mạo giống hệt như vầy nè. Nam mô Địa Tạng Bồ-tát!”. Tôi cảm động quá, cung kính để sách lên đầu và chí thành niệm danh Bồ-tát Địa Tạng.

Tôi nói với Hồng cư sĩ:

– Cho tôi thỉnh về nhà xem nha?

Hồng cư sĩ ưng thuận.

Sau khi cáo từ Hồng cư sĩ, về đến nhà, tôi mở sách ra, bắt chước trong chùa tụng kinh. Bắt đầu từ đó trở đi, tôi và Hồng huynh thường cùng nhau đến chùa Phật Quang thỉnh kinh về xem. Tại đây tôi được nhiều cư sĩ hướng dẫn chỉ bày thêm, dốc sức học tập Phật pháp.

Hồng cư sĩ lớn hơn tôi hai tuổi, chúng tôi cùng nhận thức sâu xa rằng, chỉ có học pháp, tu theo Phật dạy mới là con đường tốt nhất cho cuộc sống. Chúng tôi dốc sức tham gia các hoạt động Phật sự, siêng tụng kinh, phóng sinh… lo bồi dưỡng thiện căn, tiêu trừ nghiệp chướng, chăm chỉ tu hành.

*

Hồng cư sĩ đời trước vốn đã trồng thiện căn sâu dày. Mới đầu anh nói: “Muốn học Phật trước tiên phải quy y Tam bảo, xây dựng niềm tin căn bản cho tốt”… anh rủ tôi cùng quy y, nhưng tôi không chịu, nên anh đi quy y trước.

Dưới sự chỉ đạo của Hồng huynh, cộng thêm bản thân không ngừng học tập, niềm tin Phật pháp tăng mạnh, tôi phát tâm quy y.

Nhật nguyệt xoay vần như thoi đưa, thời gian qua mau như tên bắn. Kiếp nhân sinh ngắn ngủi nhưng nhiều khổ đau, mạng sống vốn vô thường… Đức Phật vĩ đại đã chỉ con đường tu hành xán lạn cho chúng ta. Đây là con đường hạnh phúc, là may mắn cực lớn cho chúng sinh. Chúng ta cần phải trân quý, tinh tấn không lười. Phải niệm niệm tu hành, để thành tựu trí huệ vô thượng, hầu báo đáp Phật ân

(Án Ma Ni Bát Di Hồng là Vi diệu thần chú)

Tuệ Tâm 2021.

Sưu Tầm Bởi Tuệ Tâm Admin ( https://kinhnghiemhocphat.com/ )

Xem Thêm:   Tham, sân, si, mạn, nghi là gì? Cách giảm như thế nào?

9 lượt xem | 0 Bình luận
Nam Mô A Di Đà Phật - Pháp Giới là trang chia sẻ phật pháp, kinh phật, pháp âm, câu chuyện phật giáo. Mong góp chút sức lực bé nhỏ để giúp các bạn tiếp cận được đại trí thức của đức Phật. Đừng hỏi tôi là ai. Hãy chấp trì danh hiệu Phật, gieo duyên với Phật Pháp để giúp bạn an lạc.
Pháp Âm Thần Chú Tu Học Blog